Dòng HÙNG VIỆT

Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


ABC sử địa Hùng Việt – bài 2 Empty

November 2022

MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930    

Calendar Calendar

Khách thăm



ABC sử địa Hùng Việt – bài 2 Flags_1



ABC sử địa Hùng Việt – bài 2

Admin
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 1135
Join date : 31/01/2008

ABC sử địa Hùng Việt – bài 2 Empty ABC sử địa Hùng Việt – bài 2

Bài gửi by Admin 10/2/2022, 3:03 pm

Tổng hợp thông tin buổi đầ̀̀u dựng nước của dòng giống Hùng từ nhiều nguồn trong đó tư liệu Trung hoa đã cung cấp nhiều thông tin về thời kiến lập quốc gia của họ Hùng .
Thị tộc của đế Vàng trước sinh trú ở lưu vực sông Khang sau dời về miền sông Cơ , đế Viêm là anh em cùng cha khác mẹ với đế Hoàng bị Si vưu xâm lấn lãnh thổ đã cầu cứu và đế Hoàng đã hưng binh đánh diệt Si vưu , thời gian sau anh em phát sinh mâu thuẫn và đế Hoàng đã tóm thâu luôn thị tộc của đế Viêm .
Bước đầu tiến trình kiến quốc đã xong
Buổi đầu dựng nước Đế Vàng đã có công hợp nhất 3 chi tộc thành 1 dân tộc , vận dụng Ngũ sắc Dịch học nhận ra :
Thị tộc Vàng là chi tộc trung tâm , xoay quanh là chi tộc sống ở phía Xích đạo Viêm nhiệt màu Đỏ là con cháu đế Viêm  , phía Tây là chi tộc con cháu Xi vưu  , danh xưng Xi vưu nghĩa là vua hay chúa phía Tây , xi hay Xuy cũng là Tư – tây , còn vưu chỉ là từ vua viết sai .
Bước tiếp sau đế Vàng đánh bại Hoan đâu dòng dõi đế Xuyên Húc ở vùng Đan thủy mở rộng lãnh thổ về phía màu Đen là hướng Nam xưa (nay lộn ngược gọi là Bắc) vậy là người họ Hùng có thêm chi tộc phía Nam và lãnh thổ nước họ Hùng đã có đủ 2 miền Bắc và Nam  gọi là Đào – Thường hay Đường.
Đế Vàng định đô ở đất Đào màu đỏ , tư liệu Việt gọi là kinh đô Thướu lĩnh chính xác ra là Thiêu lĩnh , thiêu là đốt cháy chỉ tính viêm nhiệt vùng Xích đạo . Tư liệu Việt viết Nhà vua ưa đi tuần du ngoài biển bỗng một hôm thuyền rồng trôi đến Động đình hồ….vua lên bờ và gặp tiên ,.tư liệu Việt viết là đế Minh tuần thú phương Nam đến núi Ngũ lĩnh kết duyên cùng con gái bà Vụ tiên sinh ra Lộc tục ; Lộc tục chính xác là Lục tộc hay Lạc tộc nghĩa theo Dịch học là dòng tộc phương Nam – phương Nước màu Đen .
Đế Minh hay đế Vàng phong Lộc tục tước vương và truyền ngôi đế cho con cả là đế Nghi theo tư liệu Việt hay đế Đường Nghiêu theo tư liệu Trung hoa .
Nước ta khởi đầu có 2 miền Đào và Thường hay Đường đế Minh định đô ở đất Đào .đế Đường Nghiêu trước là Đường vương cũng có tư liệu chép là Đường hầu sau khi lên ngôi vua định đô ở đất Đường hay Thường phía Nam xưa vì thế mà triều đại của đế Đường Nghiêu sách sử gọi là Nam triều , bản thân đế Đường Nghiêu được dân gian Việt gọi là Nam bang triệu tổ hay Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế bên cạnh đế Mnh hiệu là vua cha ngọc hoàng thượng đế .
Ở bài trước đã nói lãnh thổ nước họ Hùng là chỗ Giữa tức trung tâm trời đất Thiên hạ tư liệu chữ Nho các cụ chép thành Giao chỉ , do đất Giao mà cổ sử Trung hoa có 2 nhân vật :ông Cao Giao và ông Giao Thường , ông Giao Thường chính là đế Đường nghiêu tức đế Nghi . Cao Giao là 1 địa danh cách gọi khác của đất Đào nghĩa là phần đất Giao phía Bắc xưa (nay đã lộn ngược) và Giao Thường chính là đất Đường hay Thường tức đất Giao phía Nam – phương nước màu Đen . 2 qúy tộc của đất ấy gọi là ông Cao Giao và ông Giao Thường.
Đế Đường Nghiêu là vua Nam triều thứ I còn được gọi là Kinh Dương vương , phân tích theo Dịch học : Kinh thực đúng là Canh , can Canh chỉ phía Nam màu đen đối phản với can Tân phía Xích đạo màu đỏ trong Thập can , dương chính xác là Giang chỉ miền sông nước phía Nam đối phản với Hà – hải là biển hồ phía xích đạo ; Kinh dương và Hồ tôn làm thành trục địa lí Bắc Nam của cổ sử Việt .
Đế Đường Nghiêu tức Kinh dương vương thứ I truyền ngôi cho đế Ngu Thuấn , đế Thuấn trở̉ thành Kinh Dương vương tức vua Nam triều thứ II.
Thời Nghiêu Thuắn đất nước mở rộng có thêm đất Nam Giao tức đất tiếp giáp phía Nam Giao chỉ , đắt này gọi là lĩnh Nam hay Nam lĩnh thời lãnh thổ ‘Tam lĩnh’ , đất Đường hay Thường trở thành Ngũ Lĩnh ở trung tâm , đất Đào là Hồng lĩnh .
Xét tới đây đã thâu thập và xác lập được khá nhiều thông tin Địa lí thời họ Hồng bang hay hữu Hùng quốc .
Đế Đường Nghiêu là Đường vương tên dân gian là Giao Thường nghĩa là qúy tộc đất Giao chỉ phía Nam , từ cứ điểm này ta có thể xác định lãnh thổ Nam Bang hay đất nước ta thời Nam triều .
Thị tộc của đế Vàng trước sinh trú ở sông Khang sau dời về lưu vực sông Cơ . Sông Khang Đại Nam nhất thống chí thời nhà Nguyễn gọi là Khung giang , Khung giang là sông Cửu long hay Mê Kông ngày nay ,.Sông Cơ là sông Cao hay Cả ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh ngày nay, sông Cả cũng gọi là sông Lam . theo thiển ý gọi như thế là không đúng , chính xác phải gọi là sông Lang , cả và lang đều nghĩa là vua là chúa hoàn toàn trùng với tên Nặm Khan là sông vua như người Lào gọi .
Thời đầu lập quốc ở sông Cơ – Cao – Cả vùng Thanh Nghệ tĩnh , miền này phía đông là Biển nên cộng đồng dân tộc ban đầu chỉ có 3 chi sau mới có thêm chi thứ 4. Chi tộc sông Cả ở trung tâm và chung quanh là chi Viêm tộc phía Xích đạo và phía Tây con cháu Xi vưu ở sông Khang . Chi tộc phía Nam xưa ở Đan thủy nơi đế Vàng đánh bại và thâu tóm đất của Hoan Đ̣âu . trong địa danh Đan thủy thì Thủy là sông , Đan thực ra là màu Đen , Đan thủy cũng là Hắc thủy tên gọi khác của sông Đà ngày nay .
Người Việt ai cũng biết câu ca dao :
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra .
Ngoài ý nói về công ơn đấng sinh thành câu ca dao này còn là chỉ dẫn địa lí quan trong về quê cha đất tổ người họ Hùng.
Thái sơn là nói đến núi Đọ ở Thanh hóa , về ý nghĩa Đại và Thái là một ; Đại là Thái hữu hình và ngược lại Thái là Đại vô hình tàng ẩn vào bên trong .
Câu nghĩa mẹ là sự chỉ dẫn về dòng sông mẹ đã nuôi dưỡng con cháu họ Hùng từ thuở sơ khai đó là sông Mã . Miền đất Đào xa xưa nay vẫn còn lưu dấu trong tên gọi đãy núi Hồng lĩnh ở Hà tĩnh.
Phía đông nước ta là Biển từ vùng Thướu lãnh thuyền vua tuần du ngoài biển bất chợt trôi đến vùng Động đình hồ để vua lên bờ gặp tiên rồi sinh con đẻ cái tạo ra dòng Lạc tộc thì Động đình hồ không thể là nơi nào khác ngoài vịnh Bắc bộ ngày nay .
Thực cực kì vô lí khi cho Động đình hồ là cái hồ ở tỉnh Hồ Nam Trung quốc , thuyền rồng vương tổ nước họ Hùng chui vào cái lối nào mà trôi đến được tận Động đình hồ ở Hồ nam ?.
Đế Ngu Thuấn là Kinh dương vương đời thứ II tên dân gian là Diêu Trọng Hoá cũng đọc là Diêu Trùng Hoa , đi tìm ý nghĩa danh hiệu này … Diêu chỉ là Giao viết sai , trọng chỉ con trai thứ 2 trong nhà còn hoá nghĩa là trở thành hay biến ra , ông Diêu trọng hoá chính xác là ông Giao hóa nghĩa là người đã hợp nhất đất phía Nam vào với Giao chỉ .
Đế Ngu Thuấn truyền ngôi cho Đại Vũ – Kinh dương vương đời thứ III, đại vũ có nghĩa là vì vua lớn , vũ là kí âm của từ vua tiếng Việt .
Đại Vũ có tên dân gian là Cao Mật , cao và mật đều Là từ ‘Nôm’, cao là cao cả chỉ vua chúa thủ lãnh , mật thực ra là kí âm của một , Đại vũ ông vua lớn cũng là Cao Một ông vua đầu tiên của vương quốc tức đã chắm dứt thời quốc gia sơ khai .
Tóm lại không gian thời Thiên hạ họ Hùng sơ khai là vùng tam giác giới hạn bởi sông Cửu long phía Tây , phía Đông và Nam ngày nay là Biển và phía Bắc (xưa là Nam) nay là dòng Châu giang hay sông Tứ thuộc Trung quốc.

    Hôm nay: 29/11/2022, 1:45 pm