Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


December 2017

MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

Khách thăm







Tổng luận về buổi đầu dựng nước TT.

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 765
Join date : 31/01/2008

Tổng luận về buổi đầu dựng nước TT.

Bài gửi by Admin on 8/4/2016, 11:32 am

Truyền thuyết lập quốc của người Việt tự trong bản thân đã chứa nhiều mâu thuẫn :

Đế Minh cháu 3 đời của Viêm đế Thần nông là cha của đế Nghi và Lộc tục ,  … đế Minh truyền ngôi cho đế Nghi nhưng rồi …ngay kế sau lại viết  …đế Minh phong cho đế Nghi làm vua phương Bắc , Lộc Tục làm vua phương Nam ; đây là điều mâu thuẫn tự thân câu chuyện ; ngôi đế đứng đầu cả Thiên hạ , đế Nghi kế ngôi cha tức là vua cả Thiên hạ sao lại còn Lộc Tục làm vua phương Nam hoá ra  có tới 2 Thiên hạ sao ?.

Người Việt Nam tự cho mình là ở phương Nam của Hán quốc , sau 1 thời gian dài mấy trăm năm làm nô lệ đã hằn sâu ý tưởng vùng lên trong não bộ các sử gia Việt  ; ta không thua kém gì giặc phương Bắc , thủ lãnh Lộc Tục được vua cha yêu mến còn hơn cả đế Nghi nhưng  đã nhường cho anh …ở đây truyền thuyết đã sai nghiêm trọng khi tạo nên lầm tưởng … : đế Nghi phương Bắc là nước của người Hán  , Lộc Tục phương Nam là quốc gia của nòi giống Việt , vậy hóa ra …Việt và Hán là anh em ruột cùng cha sao ?, Điều này không thể có vì chính giới khoa học Trung quốc xác định họ thuộc  dòng giống Mongoloid tức chi phía Bắc (nay) của đại chủng Mongoloid còn người Việt và phần lớn người Hoa Nam thuộc vể chủng Mongoloid phương Nam ; 2 dân tộc thuộc về 2 chủng tộc khác nhau thì không thể là anh em cùng cha được .

Nếu không có chuyện …Lộc Tục làm vua phương Nam sao trong truyền thuyết lịch sử Việt lại có Nam bang – Nam triều với  Kinh Dương vương ?.

Truyền thuyết Trung hoa chép : đế Nghiêu là người đất Đào nhưng lại được phong vương ở đất Đường hay Thường , Vì thế được gọi là đế Đường Nghiêu cũng là đế Đào – Đường , đối chiếu với truyền thuyết Việt thì chính đế Nghi mới là Kinh Dương vương vua của Nam triều – Nam bang , Lộc Tục  là Lộc tộc (tộc nai) Lạc tộc (tộc nước)  tên 1 dòng tộc  không phải tên người vì thế tuyệt đối không  có chuyện đế Nghi làm vua phương Bắc , Lộc tục làm vua phương Nam  .

Chính vì sai lầm …Việt phương Nam , Hán phương Bắc mà  sinh ra khuynh hướng coi Lộc Tục – Kinh Dương vương là Hùng Dương – Thái Cao vua đầu tiên  của ‘nước ta’ trong phả hệ 18 đời Hùng vương .

Thượng thư quyển sử cổ nhất của Trung hoa không nói đến 1 đất Giao nào khác ngoài ‘Nam Giao’ tức vùng đất phía Nam Giao chỉ (cấu trúc văn phạm Việt …), theo suy luận thông thường …ắt phải có đất Giao chỉ trước rồi mới có vùng Nam Giao hay nói cách khác :  Nam Giao chỉ là vùng mở rộng  của Giao Chỉ ; chữ Nho : Quảng nghĩa  là mở rộng thêm ra , đất Giao chỉ mở rộng này thời Tôn Quyền chính là Quảng châu nay  là Quảng Đông – Quảng Tây  .

Vì chỉ độc nhất 1 đất Giao nên các ông Cao Giao , Giao Thường và Giao hóa không thể sinh trú và làm thủ lãnh của dân ở 1 nơi nào khác ngoài  Giao Chỉ bộ hay bộ (10 – 5) , nói khác đi : các ông chính  là  tiên nhân  nòi giống Việt .

Đế Nghiêu truyền ngôi cho con rể là Thuấn , đế Thuấn định đô ở Bồ bản , bồ bản là từ tiếng Việt , bồ bản không phải là tên riêng chỉ nghĩa là cái ‘bản lớn’ (bản = làng) đồng nghĩa với ‘làng cả’ và ‘đại ấp’ trong ngôn ngữ cổ xưa . Sử thuyết Hùng Việt cho đế Thuấn  là ông ‘Giao hóa’ thủ lãnh miền Nam Giao , Tên gọi ‘Giao hóa’ chỉ ra đấy là miền mới được nhập vào với miền ‘Giao chỉ – chỗ giữa’ khi mở rộng bờ cõi nước họ Hùng về phía Nam , cũng chính vì như thế nên đời Tôn Quyền nước Ngô chia tách Giao chỉ thành Giao châu và Quảng châu , giao là giữa và quảng nghĩa là mở rộng ra , tên gọi đất Quảng – mở rộng tồn tại cho đến tận ngày nay trong tên 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây . Chứng cớ cho việc sử thuyết hùng Việt xác định đất của đế Thuấn ở vùng Quảng Tây ngày nay là dòng tư liệu viết … đế Thuấn tuần du phương Nam (xưa) và chết ở Thương Ngô nay là miền Tây – Bắc Quảng Tây , 2 bà vợ là công chúa Nga Hoàng và Nữ Anh con đế Nghiêu đã trầm mình chết theo chồng ở sông Tương phía Nam Hồ Nam giáp Quảng Tây.

Thêm nữa ….khi đế Thuấn truyền ngôi cho Đại Vũ thì tộc Tam Miêu bất bình và nổi loạn khiến đế Thuấn và Đại Vũ phải đánh dẹp mãi không song , chỉ đến khi Đại Vũ ngừng vũ lực và mở mang văn đức  , dùng ánh sáng văn minh và đức độ cảm hóa lòng người thì chúa Tam Miêu mới về quy phục . Địa bàn từ rất xa xưa của tộc Miêu hay Hmong là vùng Qúy châu giáp ranh phía Bắc của Quảng Tây …. thử hỏi nếu đất của  Nghiêu – Thuấn ở Bắc Hoàng hà như sử Trung quốc viết thì làm gì có Tam Miêu ở đấy để mà bất mãn nổi loạn ?.

Việc mở rộng lãnh thổ nước họ Hùng Sơ khai theo chiều Bắc – Nam coi như hoàn tất dưới triều Đường Nghiêu và Ngu Thuấn  khi đất nước đã có đủ Tam lĩnh : Hồng lĩnh – Ngũ lĩnh và Nam lĩnh .

Cổ sử viết đế Thuấn truyền ngôi cho ông Cao Mật hay Cao Một tức vua Đại Vũ ý chỉ việc  bắt đầu thời đất nước mở rộng theo chiều Tây – Đông . Tích Đại Vũ trị thủy trong thực tế là nói đến  thời biển thoái hình thành đầm Vân Mộng ; theo phép phiên thiết   “vân mồng thiết vồng – giồng” , giồng tiếng Việt chỉ vùng đất trũng mới ngoi lên khỏi mặt nước đã có thể  ‘trồng’ trọt  hay ‘giồng’ được (như giồng ông Tố, giồng Trôm .v.v.) không phải vân và mồng là tên của 2 cái đầm bên Tàu . Sự việc hình thành đầm Vân Mộng miêu tả trong cổ thư  giúp xác định niên đại triều vua Đại Vũ là khoảng 2200 năm trước năm 0 là chính xác hoàn toàn phù hợp với biến cố địa lí tự nhiên  xảy ra trên đất Việt thời điểm ấy .




Truyền thuyết Việt chép : Kinh Dương vương kết duyên cùng Long nữ con gái Động đình quân (nếu  trọn nghĩa có lẽ phải viết là Động đình hồ quân) . Tư liệu Trung hoa Viết : vua Đại Vũ lấy vợ là Đồ sơn thị . Sử thuyết Hùng Việt cho vua Đại Vũ chính là Kinh dương vương vua  Nam triều thứ III (sau đế Nghiêu và đế Thuấn) và Long nữ sau gọi là Long mẫu chính là  Đồ sơn thị  , cụm từ ‘Đồ sơn thị’ nghĩa là người đàn bà ở Đồ sơn (nay là Đồ sơn – Hải phòng) hoàn toàn trùng đúng với ý nghĩa mang trong tên gọi Long nữ con vua Động đình hồ  là vịnh Bắc Việt ngày nay  . Người Việt nhận mình là con của cha Rồng mẹ Tiên là nói ngược ;  Long mẫu nghĩa là mẹ Rồng như vậy phải nói là ‘mẹ Rồng cha Tiên’ mới đúng . Chữ Tiên ghép bởi chữ Nhân và chữ Sơn ;  sơn nhân là người núi cũng là người phương Nam vì theo Dịch học quẻ Cấn phương Nam là tượng của núi – non , có như thế mới đúng với cha là Kinh Dương vương vua của phương Nam .
Dân gian Quảng Tây còn truyền tụng truyện tích….Đại Vũ chết hóa thành con gấu , người vợ thấy thế sợ qúa chết theo và hóa thành hòn đá núi , câu truyện trên chỉ là ánh xạ của sự thực  Đại Vũ là 1 Hùng vương , Hùng là con gấu ,  vợ hóa hòn đá núi là cách ám chỉ tên gọi ‘Đồ sơn thị’ mà thôi .
Về chủng tính của Đại Vũ  nhà nghiên cứu Nguyễn thiếu Dũng có khám phá nhỏ nhưng lại là  bằng chứng vững chắc  không thể phủ nhận :
…Theo Ngô Việt Xuân Thu, Vua Vũ con của Cổn là hậu duệ của Đế Chuyên Húc. Cổn lấy con gái nhà Tân thị tên là Hi. Nhiều năm dài bà này vẫn chưa có con đến khi lên núi Chỉ ăn được hạt ‘ý dĩ’ mới hoài thai sinh Cao Mật tức vua Đại Vũ ….
Ý dĩ là loại thực vật nhiệt đới , 1 loại thuốc cực qúy của người Việt chuyên dùng trị ‘lam sơn chướng khí’. Tương truyền …Mã Viện khi đem quân đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng đã chở đầy mấy xe hạt ý dĩ về Trung Quốc gây giống …phòng sau này người Hán lại …phải xuống phương Nam lần nữa …
Vì ăn hạt Ý Dĩ mà có thai Cao Mật ,  Ý Dĩ là loài cây chỉ có ở vùng nhiệt đới …như thế mẹ con ông Cao Mật chắc chắn là người vùng Nhiệt đới tức người Việt hay người Hoa Nam  thuộc loại hình nhân chủng Mongoloid phương Nam , nói rõ hơn thì … vua Đại Vũ là  người Bách Việt .
Thêm nữa …Đại Vũ hội chư hầu ở đất Cối kê ,  chết và được táng ở đấy ,  nhà Hạ trung hưng dành riêng đất này làm nơi thờ Đại Vũ . Cối kê nay thuộc Triết giang chính xác ra phải viết là ‘Cái Cơ’; Cái là mẹ là lớn nhất , Cơ là Cao cả tức vua chúa , Cái cơ nghĩa là vương tổ vì nhà Hạ nhận Đại vũ là vương tổ của triều đại  , Sử thuyết Hùng Việt cho Cao Mật – Đại Vũ là Hùng Việt vương – Tuấn lang đạo hiệu là Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương , ‘Cái cơ’  chính là ‘đại vương’ trong đạo hiệu , đất dành riêng thờ Đại Vũ gọi là đất Việt sau là lãnh thổ nước Việt của Việt vương Câu Tiễn .
Vũ là kí âm của ‘Vua’ tiếng Việt , Vua là từ cao trọng cực cấp chỉ dùng gọi vì vương có công khai sáng  quốc gia hay triều đại . Cổ sử Thiên hạ chỉ có 2 ‘VŨ’ .
*Thời bản lề chuyển từ liên minh thị tộc thành quốc gia sơ khai có Hùng Vũ , Hùng Vũ tên chữ nghĩa chính là Vua Hùng của dân gian .
*Thời bản lề thứ 2 trong lịch sử dân Việt là thời chuyển từ quốc gia sơ khai thành 1 vương quốc có Đại Vũ nghĩa là vua lớn .
Có học gỉa nhận định rất xác đáng coi Đại Vũ là ông tổ của tộc người vùng  ven biển Hoa Nam  , với thông tin đã nêu trong bài ;  Sử thuyết Hùng Việt nhìn nhận rộng hơn : tất cả các thủ lãnh Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng  thời  sơ khai  như : ông Cao Giao – Bá Ích , Giao Thường – đế Đường nghiêu , Giao Hóa – đế Ngu Thuấn và Cao Mật – Đại Vũ đều là người Bách Việt .
Tóm lại : Cổ sử Trung hoa thực ra là cổ sử Việt , Hán tộc thuộc chủng Mongoloid đã cướp nước cướp luôn cả lịch sử và văn minh của người họ Hùng tức Việt tộc chủng Mongoloid phương Nam . Thật đáng buồn cho những người Trung hoa đã Hán hóa ; về mặt chủng tộc rõ ràng mang dòng máu Mongoloid phương Nam của người Bách Việt nhưng lại tự  nhận mình là người Hán Mongoloid  gốc gác ở Bắc Hoàng hà như giới nghiên cứu Trung quốc đang nhìn nhận . Đúng là cảnh …‘mồ cha không khóc , khóc đống mối’ …

    Hôm nay: 11/12/2017, 12:38 pm