Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


December 2017

MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

Khách thăm







Tộc Canh và tộc La

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 765
Join date : 31/01/2008

Tộc Canh và tộc La

Bài gửi by Admin on 26/9/2014, 4:09 pm

Ở Nha trang Khánh hoà còn khắc 2 câu thơ do chính vua nhà Trần đề tặng :
Trần triều uy đức an thiên hạ
Lê gia công trạch định Viêm cương .
Qua 2 dòng chữ ngắn ngủi Các vua Trần đã minh thị xưng mình là chủ thiên hạ và xác định đất đai của Thiên hạ nhà Trần về hướng Xích đạo (Viêm cương) được đưa vào bản đồ do công sức của họ Lê .
Thơ do Vua Trần làm thì họ Lê trong thơ không thể là nhà hậu Lê của Lê lợi mà buộc phải của triều Lê tiền triều , theo chính sử thì chỉ có thể là triều vua Lê đại Hành.
Quan trọng hơn hết là 2 câu thơ được tặng khắc ở đất Nha Trang – Khánh hoà chứng tỏ Viêm cương của Thiên hạ nhà Trần đã phủ hết lãnh thổ nước Cam tức Chiêm thành , nơi này còn dấu tích rõ rệt lưu giữ trong tên đất định biên : Cam ranh cạnh Phan ranh (sai thành Phan rang , cũng có tư liệu chép là Cam rang) .
Tuy chỉ vài chữ nhưng mang thông tin rất quan trọng : ngay thời Lê đại Hành (?) lãnh thổ của tiền nhân người Việt đã phủ đến Cam ranh và có 1 quốc gia tên là Phan giáp giới với phía nam (nay) nước Cam tức Chiêm thành.
Nước Phan của người họ Phan không được nói đến trong tư liệu lịch sử Trung Hoa nhưng nhờ phép Phiên thiết Hán văn có thể xác định chính là nước Phù Nam (phù nam – phu nan thiết Phan) .
Nước Phù Nam do Hỗn Điền lập khoảng thế kỉ thứ II trước công nguyên .
Trong tư liệu xử dụng thì từ Hỗn có thể là từ gốc Tạng – Miến đồng nghĩa với Hãn là chúa trong tiếng Mông cổ . Người thiểu số Bắc Miến Điện vẫn dùng từ Khun biến âm của khan chỉ thủ lãnh (Khun Sa trùm ma túy tam giác vàng) , tiếng Lào Khan cũng là từ chỉ thủ lãnh như sông Cả của Việt nam nghĩa là sông vua sông chúa thì người Lào gọi là Nậm Khan , Nậm là sông là nước tiếng Thái – Lào , khan là từ có gốc ở ngôn ngữ dân du mục bắc Trung quốc , rất có thể đã có sự giao thoa về ngôn ngữ giữa người bản địa và người Mông cổ trong thời gian dài rợ chiếm và cai trị nước Đại Lý – Vân nam ? , Chính tên Nậm Khan đã chỉ ra sông Cả tên khác là sông Lang tức sông vua sông chúa không phải là sông Lam như hiện có . Di yên thiết Điền , Hỗn Điền là chúa người Di Yên thuộc dòng tộc La của họ Hùng sống ở phía Xích đạo , đồng tộc đồng tông với người Chim – Chiêm (xin đọc bài về tộc phả họ Phan Việt Nam) .
Thế kỷ thứ III sau công nguyên Hỗn (chúa) Bàn Bàn nước Phan bị họ Phạm thay thế , tư liệu không nói gì đến số phận dòng vua họ Phan sau đấy , nhưng đúng…từ thời điểm này xuất hiện nước có tên ký âm La tinh là Pan Pan ở phía đông bán đảo Mã đai đối diện qua eo biển với đất Phù nam cũ , phải chăng nước Pan Pan chính là nước của dòng Hỗn Bàn Bàn (ký âm Hán văn) trước đây dời đến sau khi mất vùng kinh đô về tay họ Phạm ?.
Ngày nay người ta thường lầm lẫn người Việt với dòng tộc Kinh , thực ra cấu thành dân tộc sống trong nước Việt Nam từ khi vua Hùng dựng nước bên cạnh tộc Kênh – Canh đã có tộc La tức người Chiêm thành về sau ,(Tư liệu Trung quốc thời Mãn Thanh vẫn gọi vùng biển ngoài khơi Chiêm thành là La hải , biển của người La).
Đất đai Thiên hạ nhà Trần đã phủ hết đất Chiêm thành đã là chuyện ‘lạ’ khi phát lộ hoàng thành Thăng long khiến giật mình hơn nữa …
Hoàng thành Thăng long xây dựng từ đầu thời Đinh – Lý mà bên cạnh gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên còn có gạch Giang Tây quân và đặc biệt có cả gạch Chăm …,kỳ lạ hơn nữa rất nhiều phù điêu và những vật thể văn hóa khác của thành Thăng long mang dấu ấn văn hóa Chiêm …
Kinh đô là nơi tiêu biểu cho văn hóa dân tộc mà kinh thành nước Đại Việt bàng bạc khắp nơi nét văn hóa Chiêm thì không thể hiểu , thực vô lí khi lí giải vấn đề …do các triều đại phong kiến Việt đánh Chiêm thành bắt thợ thuyền người Chiêm đem về xây kinh đô Thăng long vì thế mà ở đấy có nhiều hiện vật mang sắc thái văn hóa Chiêm .
Phải chăng các từ Lê và Lí cùng gốc từ quẻ Ly ; chỉ phân biệt khi ‘chữ nghĩa hóa’, Ly cũng là La chỉ ngọn lửa , là mặt trời , trong ngôn ngữ Dịch học còn chỉ Vua chúa với ý thủ lãnh là đấng sáng suốt , là ngọn đuốc dẫn đưa muôn dân , truyền thuyết lịch sử Việt gọi vua kiến lập nước mình là đế Minh cũng do ý này , từ ban đầu Lê – Lí nghĩa là vua – chúa sau biến thành họ của hoàng tộc , tách biệt thêm bước nữa tuy cũng là vua người Việt rất có thể Lê thành họ của vua gốc người La hoặc đang sống trên đất La – Yên , Lí là họ vua gốc hay sống trên phần đất Kênh – Kinh ?. Sử thuyết Hùng Việt đã vận dụng luận điểm này lí gỉai luận thuyết : 2 vua đầu Công Uẩn – Đức Chính nhà Lí đô ở Hoa lư mang họ Lê , chỉ đến đời Nhật Tôn dời kinh đô về Thăng long mới cải gọi là họ Lí .

Rất có thể ban đầu Phan và Phạm chỉ là 1 họ của vua chúa người La sau tách thành 2 nhánh nên người ta phải tạo 2 từ riêng –để phân biệt tương tự như trường hợp họ Lí và họ Lê .
Tộc phả họ Phan là hoàng tộc Chiêm xưa ở miền trung Việt cho biết : họ thuộc dòng giống vua ‘Lạc’ ban đầu sinh trú ở Thanh hóa dần về sau di cư vào miền Trung , tộc phả còn nói đến 2 điều quan trọng khác là từ thời Trần Việt và Chiêm đã thống nhất thành 1 nước và chỉ rõ vua Lê Lợi –Lam sơn động chủ là người Chiêm (xem bài MỘT BẢN PHỔ CHÍ NÓI VỀ QUAN HỆ VIỆT CHĂM ) .
Thường những sử liệu trong dân gian vì là ghi chép lại theo ký ức nên không chính xác hoàn toàn , có thể có chút lầm lẫn về địa bàn và thời điểm nhưng thông tin cốt lõi của diễn biến lịch sử thì không sai , đặc biệt đối với Việt nam Sử liệu dân gian chính là nguồn thông tin đáng tin hơn cả vì sử liệu này không bị bóp méo theo ý đồ chính trị của cả nội nhân lẫn ngoại nhân . Nhiều người khinh chê diễu cợt nguồn tư liệu dân gian ‘chép lại’ theo trí nhớ này và chỉ tin vào sách vở Tầu… có biết đâu những dòng sử đầu tiên của Trung quốc là Kinh Thư cũng do Phục Thắng tiên sinh… ông già gần trăm tuổi móm mém theo trí nhớ kể ra cho con gái ghi lại vì bổn gốc đã bị Tần thủy hoàng đốt mất … ; nên biết chữ Nho rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa vậy với quy trình kể – nghe – viết ‘phậm phèo’ như thế sách Tầu liệu đúng được bao nhiêu phần ?.
Ngày nay đa dố dân Việt nhận mình là người Kinh nhưng xa xưa chưa chắc đã như vậy , có thể chỉ ở giai đoạn lịch sử sau cùng do sự lan toả tự nhiên của văn hóa ‘kẻ chợ’ mà hết thảy chốn đông người thuận tiện đi lại đều ‘hóa’ thành người Kinh …. Người Việt khắp nước về chủng tộc chỉ thuộc 1 giống dòng , khác nhau chăng là vài đặc điểm văn hóa do thăng trầm lịch sử khi hợp lúc tan mà ra , người 1 nước phải có tiếng nói chung là chuyện tất nhiên vì thế như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “(Đời vua Trần,1374) xuống chiếu cho quân và dân không được mặc áo, chải đầu theo người phương Bắc và bắt chước tiếng nói các nước Chiêm, Lào” , sự việc này chứng tỏ trong dân chúng lúc đấy người nói tiếng Chiêm tiếng Lào không phải ít .
Ai ơi chớ lấy kẻ La
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm .
(dưa của đàn …bà, cà của đàn…ông)
Câu ca dao của trai gái người Kinh đến tuổi cập kê này thực chất không phải là sự diễu cợt ‘phân biệt chủng tộc’ mà là sự khuyến dụ níu kéo dành giật của những chàng và nàng sợ ‘ế’ , vô tình chính điều này khẳng định người La và người Kênh thành vợ chồng không ít . Phải chăng đấy cũng là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến ngày nay đa số dân Việt nhận là người tộc Kênh ? .
Trống đồng Đông sơn ở Thanh hóa vẫn được coi là vật thể văn hóa tiêu biểu của người Việt mà biên giới cổ Việt xưa theo chính sử về phía Nam chỉ hết đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh , qúa nữa là đất của dân tộc khác vậy mà chỉ mấy năm vừa qua mà đã tìm thấy cả trên trăm trống đồng ở miền Trung , Tây nguyên và Campuchea , có nơi nhiều tới nỗi dân gian gọi là ‘mỏ’ trống đồng , đây là giải đất về mặt địa lý tự nhiên liền một mạch không có gì phân cách với đất cổ Việt. Sự kiện này đặt ra 1 dấu hỏi lớn với cổ sử Việt vì chức năng chính của trống đồng là nhạc khí dùng tế lễ tổ tiên và ở phần Văn minh Hùng Việt trong Blog này đã chỉ ra chủ nhân của nền văn minh trống đồng là dòng Lạc – Long tổ tiên người Việt nam ngày nay .
Lịch sử cả quốc gia lẫn nòi giống Việt , văn hóa văn minh Việt còn muôn vàn khuất tất ,sách sử và tư liệu còn muôn vàn điều …không hiểu nổi , nhưng nguy hiểm hơn hết là đầy dãy những mưu ma chước qủy của cả Tây lẫn Tầu đang quấn quanh qúa khứ dân tộc này.
Để có thể biết đích xác , nói đích xác …ta là ai ?… còn thiên nan vạn nan .
Phân biệt nguồn gốc tư liệu lịch sử thật gỉa đã khó , hiểu cho chính xác thông tin chứa trong tư liệu còn khó hơn nhiều .

    Hôm nay: 11/12/2017, 12:39 pm