Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


November 2017

MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   

Calendar Calendar

Khách thăm







Biểu tượng khởi thủy của Địa Chi Mão là tên gọi con thỏ hay tên gọi con mèo?

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 764
Join date : 31/01/2008

Biểu tượng khởi thủy của Địa Chi Mão là tên gọi con thỏ hay tên gọi con mèo?

Bài gửi by Admin on 18/2/2014, 5:06 pm

Đinh văn Tuấn

Xin phép tác giả được đăng lại bài viết .
Theo Âm lịch vào những năm thuộc Địa Chi Mão 卯 (như năm nay đang là cuối năm Tân Mão), người ta thấy trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở các nước Á Đông có 2 hình tượng khác nhau hiện diện để tượng trưng cho năm Mão: Theo truyền thống, ở Trung Quốc, Đài Loan,… đã  lấy hình tượng con THỎ兔(thố) để làm biểu tượng cho năm Mão nhưng đặc biệt ở Việt Nam, lại là biểu tượng con MÈO, người Việt thường nói năm, tuổi mẹo hay mèo. Trong 12 con giáp của Trung Quốc và Việt Nam, chỉ có con giáp thứ 4 là thật sự khác nhau. Sự khác biệt duy nhất này đã trở thành một đề tài cho một số nhà nghiên cứu Việt Nam tìm hiểu và lý giải, trong đó có một giả thuyết hấp dẫn như muốn khẳng định hình tượng và tên gọi  con MÈO của Việt Nam mới chính là khởi thủy của Chi MÃO và người Trung Quốc đã tiếp nhận nhưng lại cố ý thay con THỎ vào chỗ của con MÈO[1][1], [5] Nhưng sự thật có phải như thế không?  Bài viết này là một cố gắng tìm hiểu và khảo chứng lại, dựa vào các  bằng chứng xác thực từ thư tịch, khảo cổ… để thử tìm giải đáp cho câu hỏi: Biểu tượng của Chi Mão, lúc ban đầu là hình tượng và tên gọi con thỏ Trung Quốc hay hình tượng và tên gọi con mèo Việt
1. Chi MÃO và biểu tượng con THỎ qua thư tịch, khảo cổ ở Trung 

 Mão 卯là Chi thứ 4 trong 12 Địa Chi (Thập nhị Chi) như Tý, Sửu, Dần, Mão… trong lịch pháp Trung Quốc thời cổ, 12 Địa Chi phối hợp với 10 Thiên Can (Thập Can) như Giáp, Ất, Bính, Đinh…để ghi nhớ, tính toán thời gian. Lịch pháp Trung Quốc với hệ thống Thập Can Thập nhị Chi đã xuất hiện sớm nhất từ thời nhà Thương (1766–1122 TCN) với bằng chứng khảo cổ qua Giáp cốt văn. Sau đây là chữ卯 từ Giáp cốt văn[2][2]:

12 Địa Chi ban đầu không phải là những tên gọi của 12 con thú, chúng thuần túy là tên gọi chỉ thời gian, theo sách Kinh Dịch - Đạo của người Quân tử [4] Học giả Nguyễn Hiến Lê đã dẫn ra một quẻ bói từ Giáp cốt văn trích trong cuốn East Asia - The Great tradition (Modern Asia éditions – Tokyo.1962) (xem hình 1): Rồi sau mới phối hợp 12 tên gọi của thú vật dùng làm biểu tượng cho 12 Địa Chi, 12 biểu tượng này được gọi là 12 Sinh Tiếu 生肖(Trung Quốc) hay 12 con Giáp (Việt Nam). Dấu vết xưa nhất hiện còn trong thư tịch Trung Quốc liên quan đến 12 Sinh Tiếu là ở thời Tiên Tần như sách Kinh Thi詩經,ở quyển Trung, Tiểu nhã, bài Cát nhật với câu: “吉日庚,既差我[3][3], ở đây 馬 (ngựa) ám chỉ Ngọ午 hay trong sách Tả truyện左傳, Hi Công ngũ niên chép:“尾伏[4][4],龍 (rồng) ứng với Thìn辰, tuy nhiên vì đây chỉ là các truyền bản đời Hán nên chứng cứ chưa thật xác đáng. Lưu tích xác thật nhất phải nói đến di vật khảo cổ đó là Tần giản 秦简 (sách thẻ trúc đời Tần), vào năm 1975, khảo cổ học Trung Quốc đã phát hiện ra ở vùng đất Thụy Hổ, huyện Vân Mộng, Tỉnh Hồ Bắc một bộ sách thẻ trúc đời Tần là Nhật thư日書, trong đó ở chương Đạo giả盗者đã ghi chép về 12 con vật phối ứng với 12 Địa Chi, quan trọng nhất là đã xác định:“卯兔也: Chi Mão là thỏ vậy[9] Đến đời Hán trong sách Luận hành 論衡[5][5] của Vương Sung 王充 (27-97),ở Quyển Ba, Thiên 14 - Vật thế và Thiên 66 - Ngôn độc, Vương Sung đã dựa theo Âm Dương Ngũ Hành và các thuộc tính của loài vật để luận giải về 12 con thú tương ứng với 12 địa chi, trong đó cũng đã chỉ rõ “卯兔也” Chi Mãothỏ như Nhật thư. Theo sách Họa Tiết Trang Trí Đồ Đồng Xanh - Các Dân Tộc Thiểu Số Trung Hoa, có một di vật đồ đồng xanh (trống đồng) ở Vân Nam thuộc đời Tây Hán (206 TrCN–9 CN) khắc đầy đủ 12 chữ Hán của Thập nhị Chi đối ứng với 12 con vật Sinh Tiếu, trong đó, chi MÃO chính là con THỎ [2](xem hình 2).

Họa tiết 12 con thú trên đồ đồng xanh Vân Nam đã chứng tỏ từ thời Tây Hán ở Vân Nam đã chịu ảnh hưởng một hệ thống lịch pháp cổ của Trung Hoa gắn liền với 12 con vật là biểu tượng của 12 Địa Chi.

“ngày Tân Mão hỏi quỷ thần (bói): ngày hôm nay, ngày Tân, cũng mưa hay không mưa?”.

 Chữ 兔 thố (thỏ) cũng đã từng xuất hiện trong  Giáp cốt văn[6][6]:          




Con thỏ và hình tượng của nó như “ngọc thố”, “nguyệt thố”  từ xa xưa rất thân thuộc trong truyền thuyết và văn học Trung Quốc. Ngược lại người ta không tìm thấy chữ貓miêu (mèo) trong Giáp cốt văn, Kim văn mà chỉ thấy có ở thư tịch Tiên Tần như Lễ Ký, Kinh Thi, sau đó được ghi nhận trong Thuyết văn giải tự của Hứa Thận đời Đông Hán. Hình tượng con mèo trái lại, không  được thân thiết như  hình tượng con thỏ trong đời sống và tâm lý Trung Hoa. Điều này cũng góp phần giải thích lý do tại sao người Trung Hoa lại chọn THỎ chứ không phải là MÈO để làm biểu tượng cho Chi

Như vậy, qua thư tịch và khảo cổ ở Trung Quốc cho đến nay ta có thể xác định Thập nhị Chi xuất hiện phổ biến từ thời Thương và biểu tượng 12 con vật của 12 Địa Chi đã xuất hiện sớm nhất vào khoảng thời Tiên Tần. Địa Chi thứ tư là MÃO 卯 luôn gắn liền với biểu tượng của nó từ khi sinh ra là hình tượng và tên gọi con THỎ 兔 () thố
2. Chi MÃO và biểu tượng con MÈO qua thư tịch, khảo cổ ở Việt Nam:


Thư tịch cổ Việt Nam chỉ còn các tài liệu truyền bản từ đời Trần trở về sau, theo (Đại)Việt sử lược (khuyết danh)[7] thì thời Trang Vương nhà Chu, nước Văn Lang của Hùng Vương chưa có chữ viết, chỉ biết dùng cách thắt nút để ghi nhớ chính sự, không nói gì về lịch pháp Can Chi, hay 12 con giáp cho đến khi nước Văn Lang biến mất để nhường chỗ cho nước Âu Lạc của An Dương Vương cai trị rồi sau bị Triệu Đà nước Nam Việt thôn tính thì lịch sử cổ đại VN đã sang trang mới. Bắt đầu từ đây, sau khi Nam Việt bị nhà Hán tiêu diệt, nước ta đã nội thuộc Trung Hoa và chịu ảnh hưởng văn hóa Hán sâu đậm, dĩ nhiên trong đó có hệ thống lịch pháp Trung Hoa cùng với biểu tượng của nó  là 12 Sinh Tiếu (con Giáp).
Ở Việt Nam thời cổ, dấu vết xưa nhất về 12 con Giáp đã từng được chép lại ở các truyền bản đời Trần, trước tiên là bộ (Đại)Việt sử lược (khuyết danh)[7], ở quyển thứ hai, chép về vua Lý Thái Tổ đã viết: “Xưa có con chó chùa Ứng Thiên, hương Cổ Pháp đẻ 1 con chó trắng, trên lưng có lông đen thành chữ “Thiên Tử”. Đến nay thấy vua đẻ năm Giáp Tuất”, ở đây con Giáp thứ 11 (Chi) Tuất chính là con chó, tiếp đến là sách Thiền uyển tập anh, ở quyển Hạ, Thiền phái Tì Ni Đa lưu Chi, Trưởng lão La Quý An, có ghi chép một câu kệ kiểu “sấm vĩ” do Trưởng lão viết ra và được loan truyền trong dân gian như sau: “Thố kê thử nguyệt nội兔 雞 鼠 月 內: Thỏ gà trong tháng chuột”  (Thỏ gà chuột: ngày thỏ, tháng chuột, năm gà) [3], hiển nhiên, con Giáp thứ tư, Chi MÃO chính là con THỎ chứ không phải là con MÈO, câu thơ trên chắc hẳn được làm  ra trước thời Lý, vì đã tiên đoán về chuyện Lý Công Uẩn sẽ làm vua vào năm  Kỷ Dậu (con gà) là năm 1009. Đây có lẽ là các bằng chứng sớm nhất về 12 con giáp nói chung và nói riêng là con Giáp thứ tư THỎ đã xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ X. Vậy thì rõ ràng ngay từ thế kỷ X, ở VN vẫn dùng chung một biểu tượng THỎ cho Địa Chi thứ tư như truyền thống Trung Quốc. Sau này đến tận thế kỷ XVIII Học giả Lê Quý Đôn (1726 - 1784) trong sách Vân Đài Loại ngữ, quyển 2, Tượng Hình [6]cũng đã theo thư tịch Trung Hoa để luận giải tường tận về 12 con giáp (âm dương, ngũ hành, số móng) trong đó cũng ghi nhận Chi MÃO thuộc THỎ
Tên gọi MÈO tượng trưng cho Chi MÃO có lẽ thấy sớm nhất ở trong Sấm ký Trạng Trình[7][7] tương truyền là của Nguyễn Bỉnh Khiêm (14911585) ở câu: “Mèo non chi chí tìm về cố hương” (mèo non có thể là đầu năm Mão) nhưng theo các nhà nghiên cứu Hán Nôm, truyền bản này có lẽ do người đời sau tái lập nên khó có thể là một chứng cứ giá trị. Chi MÃO được gọi tên là mẹo hay mèo lần đầu tiên được ghi chép vào  thế kỷ XVII ở trong tự điển Việt - Bồ - La (1651) [1] của Alexandre de Rhodes, soạn giả  đã ghi nhận Mão là Mẹo và giờ Mẹo ứng với con mèo, thế thì xét về niên đại có thể đoán định con Giáp thứ tư mang hình tượng con MÈO là một biến thể từ nguyên gốc là con THỎ chứ không phải là ngược lại, chuyện chuyển đổi con THỎ thành con MÈO là chuyện sinh sau đẻ muộn có lẽ do hoàn cảnh địa lý, sinh vật và sinh hoạt tâm lý của người Việt, vì loài mèo bắt chuột có ích cho nhà nông, được làm vật nuôi trong nhà, gắn bó thân thiết với con người hơn là con thỏ và có thể từ cách đọc khác của Chi卯là mão/mẹo càng dễ liên tưởng đến tên gọi mèo nên người Việt đã thay tên gọi THỐ (thỏ) Trung Hoa bằng tên gọi MÈO, mặt khác đây cũng là một trong những cách thể hiện tinh thần đối kháng Trung Hoa nhất là trong bối cảnh nhà Hậu Lê (1428 - 1788) phục hưng toàn diện văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt, là thời của các tác phẩm văn học quốc âm, chữ Nôm phát triển cực thịnh.
Về phương diện  khảo cổ học, thật đáng tiếc là cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào chứng minh thành công, thuyết phục là dân tộc Việt Nam thời thượng cổ (hay ngang với thời nhà Thương của Trung Hoa) đã có chữ viết. Không có chữ viết, tư duy con người không thể phát triển và làm phát sinh, phát triển các lĩnh vực tinh thần như lịch pháp, thiên văn, triết học…nên dĩ nhiên chúng ta không thể khẳng định trước nhà Thương, hệ lịch pháp với Thập Can thập nhị Chi cùng với 12 con vật làm biểu tượng nói chung và nói riêng là Địa Chi thứ tư là MÃO với hình tượng con MÈO đã từng xuất hiện tại vùng châu thổ sông Hồng, nơi phát tích của văn minh Đông Sơn. Trên các di vật văn hóa Đông Sơn không hề thấy hình tượng, họa tiết 12 con giáp ứng với 12 Địa Chi. Ngay cả các dấu vết hóa thạch của loài mèo thuần dưỡng hoặc các họa tiết về hình ảnh con mèo cũng chưa từng được phát hiện ra trong các di chỉ khảo cổ từ Văn hóa Hòa Bình, Phùng Nguyên, Đồng  Đậu đến Đông Sơn…Vào thời thuộc Hán, ở Giao Chỉ, Giao Châu cũng không phát hiện được các bằng chứng xác thật từ thư tịch lẫn khảo cổ về hình tượng 12 con Giáp làm biểu tượng cho 12 Địa Chi.
Trong bài viết Năm Mão và con Mèo qua thơ văn [5], Gs Nguyễn Quảng Tuân đã dùng văn tự cổ đời Xuân – Thu (770-476 trước CN) như chữ 兔 (thố) lại viết giống chữ 免 (miễn) để làm bằng chứng cho kiến giải của mình như sau: “Theo cuốn Ngữ lâm thú thoại cho nên chữ miễn, một dạng cổ của mãn trong tiếng Việt cổ đã có nghĩa là con mèo. Nghĩa này được ghi trong tự điển Việt - Hoa - Pháp của Gustave Hue - 1937 (Mãn: Chat: con mèo. Con mãn tam thể: chat à trois couleurs) và trong Tự điển Việt Nam của Khai trí Tiến đức - 1931 (Mãn: Con mèo)” Thật ra luận chứng trên không đủ thuyết phục vì trong tiếng Việt tiếng gọi “mãn” chỉ loài mèo là một tiếng xuất hiện khá muộn. Trước giai đoạn (1931 - 1937) mà Việt Nam tự điển Việt - Hoa - Pháp ghi nhận tiếng “mãn” lại không hề có trong các tài liệu chữ Nôm và Quốc ngữ còn lưu lại từ đời Trần đến Nguyễn kể cả trong tục ngữ, ca dao xưa hay các phương ngữ. Trong sách Giúp đọc Nôm và Hán Việt [8], Lm Trần Văn Kiệm cũng ghi nhận mèo Nôm còn gọi là “Con Mãn” với chú giải: “Có câu vè: Con mèo mày trèo cây cau, Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà, Chú chuột đi chợ đường xa, Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo được bình dân cho rằng đã xuất hiện từ khi Tây Sơn rút quân rời Thăng long xuống đèo Tam điệp chờ đợi vua Quang Trung ra Bắc đại phá quân Mãn Thanh”. Hiểu như thế thì tên gọi khác của con mèo là “mãn” phát sinh từ tiếng gọi tắt của Mãn Thanh vào thời Tây Sơn. Lấy một từ cận đại để lý giải một từ cổ đại là một nghịch lý, thiếu khoa học. Do đó luận điểm của Gs Nguyễn Quảng Tuân khi khẳng định: chữ miễn, một dạng cổ của mãn trong tiếng Việt cổ đã có nghĩa là con mèo.” và “Chính vì tiếng Việt còn duy trì con mèo cho chi mão/ mẹo mà ta có thể lập luận rằng nguồn gốc tên 12 con giáp chính là từ tiếng Việt cổ nhất vào thời Tiên Tần.” sẽ khó lòng đứng vững.
Tóm lại, dấu vết sớm nhất về hình tượng  và tên gọi MÈO làm biểu tượng cho Chi MÃO ở VN chỉ vào khoảng cuối thời Hậu Lê nhưng thực ra trước đó từ thế kỷ X, trong dân gian đã loan truyền tên gọi THỎ và hình tượng của nó mới thực là biểu tượng ban đầu của Địa Chi MÃO.
3. Lời Kết
Qua các bằng chứng xác thật về thư tịch, khảo cổ, ngôn ngữ thì ở Trung Quốc và Việt Nam, cho đến hiện nay ta có thể xác định 12 Địa Chi đã phổ biến từ thời Thương và sau đó vào khoảng thời Tiên Tần, 12 con vật làm biểu tượng của 12 Địa Chi mới thấy xuất hiện, trong đó Chi thứ tư là MÃO 卯 đã có hình tượng là con THỎ, chữ Hán là兔 () thố . Từ khi nội thuộc nhà Hán cho đến khi Việt Nam dành độc lập bắt đầu từ nhà Đinh đến Lý, ở VN đã chịu ảnh hưởng và dùng tên gọi, hình ảnh con THỎ để tượng trưng cho Chi MÃO như truyền thống của Trung Quốc nhưng mãi cho đến thế kỷ XVI-XVII, Chi MÃO mới bắt đầu được chuyển đổi từ hình tượng con THỎ sang hình tượng và tên gọi MÈO vì nhu cầu nội tại của đời sống sinh hoạt và tinh thần, tâm lý của người Việt. Hiển nhiên, dù muốn hay không, kết luận đã nghiêng về Trung Quốc: Khởi thủy của biểu tượng Chi Mão chính là hình tượng và tên gọi con THỎ Trung Quốc chứ không phải là hình tượng và tên gọi con MÈO Việt Nam. Sự thật khách quan này cũng chính là một chứng cứ khoa học dùng để phê bình và phủ nhận giả thuyết thiếu khoa học, nặng tinh thần “tự tôn dân tộc” khi đưa ra lập luận: Khởi đầu tên gọi của 12 Địa Chi chính là tên gọi của 12 con giáp  của VN và nói riêng về biểu tượng con MÈO là hình ảnh và tên gọi ban đầu của Chi Mão .

Biên Hòa, ngày 22 tháng 7 năm 2011

( Bài Đăng trên Tạp Chí Ngôn ngữ số 3.2012)


Được sửa bởi Admin ngày 24/4/2014, 10:13 am; sửa lần 1.
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 764
Join date : 31/01/2008

Re: Biểu tượng khởi thủy của Địa Chi Mão là tên gọi con thỏ hay tên gọi con mèo?

Bài gửi by Admin on 24/4/2014, 10:13 am

Văn Nhân góp bàn cùng tác giả .
Dù rất khâm phục sự uyên thâm  và kiến thức rộng rãi  nhưng không vì thế mà nhắm mắt đồng ý với ý kiến của tác gỉa bài viết .
Tác giả dẫn chứng ...Đời Thương bắt đầu lấy can – chi làm tên gọi của năm và chi Mão – Mẹo biểu tượng là con Thỏ có từ thời ấy ,  liên tục tới đời Hán khi văn minh Trung hoa đã trải rộng tới Vân nam thì Mão vẫn là thỏ 1 cách xuyên suốt   trong khi đó ở Việt nam từ thời nước Âu Lạc mới thấy nói đến Can – Chi có thể là do bắt đầu chịu ảnh hương cuả văn minh Hán tộc và xa lắm mãi về sau Chi MÃO được gọi tên là mẹo hay mèo lần đầu tiên được ghi chép vào  thế kỷ XVII ở trong tự điển Việt - Bồ - La (1651) [1] của Alexandre de Rhodes, soạn giả  đã ghi nhận Mão là Mẹo và giờ Mẹo ứng với con mèo .
Sau khi ghi nhận  thời điểm Thỏ và Mèo xuất hiện trên văn bản tác giả kết luận ...thế thì xét về niên đại có thể đoán định con Giáp thứ tư mang hình tượng con MÈO là một biến thể từ nguyên gốc là con THỎ chứ không phải là ngược lại, chuyện chuyển đổi con THỎ thành con MÈO
Về mặt lý luận tác gỉa lấy thời điểm trước sau xuất hiện văn bản làm căn cứ cho kết luận của mình  e rằng không thoả đáng và không thuyết phục vì chỉ lướt qua thì ít lắm cũng 2 lần nước Việt bị người Hán -Tàu xóa trắng về mặt văn hoá  ở các  thời Đông Hãn và  nhà Minh thì  còn tìm đâu ra  văn bản thư tịch làm bằng cho chi Mẹo con Mèo ?.

Sự việc ... “Chi MÃO được gọi tên là mẹo hay mèo lần đầu tiên được ghi chép vào  thế kỷ XVII ở trong tự điển Việt - Bồ - La (1651) [1] của Alexandre de Rhodes, soạn giả  đã ghi nhận Mão là Mẹo và giờ Mẹo ứng với con mèo” . ...Không có nghĩa là mãi tới năm 1651 mới có chi Mão – Mẹo con mèo mà Alexandre de Rhodes chỉ đưa vào từ điển điều đang sẵn có trong dân gian Việt còn điều đó có từ bao giờ ; 1 năm hay vạn năm thì làm sao biết được ? .
Thông tin nước Văn lang của vua Hùng chưa có chữ viết mới chỉ biết...thắt nút để cai trị là những thông tin quá sức lạc hậu từ khi chữ Lạc Việt được khám phá  cuối năm 2011 ở Quảng Tây (cương vực nước Văn lang bắc giáp Động đình hồ  nam giáp Hồ tôn tây giáp Ba Thục đông chí Nam hải)  , quan điểm ‘nước ta’ xưa đến nay vẫn như thế này là 1 điều sai lầm , lãnh thổ 1 nước có thể tùy theo vận nước thịnh suy mà có lúc rộng lúc hẹp , thủ đô có thể dời đổi chỗ này chỗ khác nhưng trước sau vẫn là ‘ nước ta’, như không thể lấy bằng cớ thủ đô nước Nam  Việt ở Phiên Ngung – Quảng châu ngoài lãnh thổ Việt nam ngày nay để kết luận nước Nam Việt của Triệu Đà không phải là ‘ nước ta’và Không phải bất cứ thứ gì tìm được trên lãnh thổ Trung quốc ngày nay đều là của Tàu cả  .
12 Địa chi và 10 Thiên can là 1 phần của nền văn minh xây trên nền  Dịch học  xuất hiện lần đầu trên Giáp cốt văn không có nghĩa là chỉ vào thời Thương mới có Thiên can - Địa chi , tương tự như chỉ đến thời Châu Văn vương mới diễn Dịch bằng chữ  để có Kinh Dịch nhưng Dịch học với dấu hiệu và đồ hình đã có trước đó rất lâu có thể là hàng vạn năm rồi .
Muốn cho thấu đáo vấn đề Thỏ hay Mèo thì không phải chỉ giỏi chữ Hán là đủ mà trước hết phải hiểu Dịch học và biết về lịch sử hình thành Dịch học .
Từ thời con người mới chỉ có tiếng nói chưa có chữ viết , quan sát hiện tượng tự nhiên ...12 lần trăng tròn-khuyết trong chu kỳ thời gian  năm chính là ý tưởng ban đầu của  12 địa chi , 12 chi tùy theo sự phát tác của âm dương mà từng chi có  tính chất riêng , tên gọi 12 địa chi là 12  từ thể hiện tính chất của nó trong Dịch học , điểm đặc biệt là  tính chất chứa trong  tên gọi các chi : Tý Sửu Dần Mẹo Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi  chỉ có thể tìm thấy trong tiếng Việt còn với Hán văn thì đấy chỉ là những tên riêng không nghĩa ngọn gì cả .
Từ tín hiệu âm thanh chuyển sang tín hiệu hình ảnh là cả 1 bước tiến dài trên đường văn minh của con người , hình vẽ  12 con vật được chọn làm đại diện cho 12 chi chính là khởi đầu của chữ viết , về sau con người giản lược dần hình vẽ thành các nét phác hoạ mang tính biểu trưng tức con người đã đi từ loại văn tự tối sơ  ‘Điểu thú văn’  chuyển   thành  chữ nho sau này .
Việc chọn lựa 12 con vật làm biểu tượng cho 12 chi theo 1 nguyên tắc rõ ràng không phải tùy tiện đó là sự cận âm của tên con vật và tên của Chi .
Ví dụ :
- Chi Hợi chính xác là Hơi nghĩa là 1 chút thôi ; con heo được chọn là con giáp đại  diện cho chi Hơi vì sự cân âm giữa Hơi và heo .
- Chi Mão – Mẹo chỉ mưu mẹo là hoạt động của trí khôn được đại diện bởi con mèo – con miêu do cận âm mẹo – mèo .
-Chi Tý tính chất là nhỏ bé nhưng  không có con vật nào gọi là con Tý nên người  xưa đã dùng từ đồng nghĩa thay thế  : tý đồng nghĩa với chút , không có con Tý nhưng có con chuột cận âm của chút vì thế con chuột được dùng làm con Giáp đại diện cho chi Tý .
- Chi Tỵ chính xác là chi Tộ , tộ là biến âm của to – lớn , không có con vật nào đồng hay cận âm với Tộ – tô – to nhưng to có đồng nghĩa là lớn , âm r tiếng việt cổ là âm l , con rắn đọc là con lắn nên con lắn – lớn được chọn là con giáp của chi Tỵ .
- Chi Mùi chỉ sự chín mùi , con dê được chọn do mùi đồng nghĩa với vị , vị cũng đọc là dị , dị  cận âm với dê nên con dê được chọn .v.v.
Tất cả tên Chi và tên con Giáp đều là từ tiếng Việt và con vật được chọn đại diện cho  các Chi được chọn theo 1 nguyên tắc rõ ràng nhất quán như đã dẫn đủ là bằng chứng để kết luận 12 địa Chi và 12 con Giáp thuộc về nền văn minh Việt .
Chẳng cần dẫn qua hết sách này vở kia chỉ cần 1 chứng cớ ngôn từ cực kỳ đơn giản nhưng không thể nào bác bỏ : là sự đồng âm của tên chi Mão – Mẹo và con Giáp đại diện là con mèo , nếu con Thỏ là biểu tượng nguyên thủy  thì không thể có chi Mão – Mẹo mà chi này phải có tên  là chi Thố hay Thổ gì đấy, tiếc thay cho tác gỉa bài viết ...mấy ngàn năm rồi mà ...Mẹo vẫn hoàn mèo .
Cứ Theo sử thuyết Hùng Việt thì ...khỏi phải bỏ công cãi chi Mão hay rộng ra cả 12 chi nguyên thủy là của Tàu hay của ta và chi Mão – Mẹo là Thỏ hay Mèo vì nhà Thương cho tới nhà Tây Hán hết thảy là các triều đại của Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng tiền thân của nước Việt nam ngày nay chẳng dính dáng gì đến Hán – Tàu cả  .
Tác giả bài viết có vội vàng khinh xuất lắm không khi chủ quan kết luận và nặng lời phê phán :
..Khởi thủy của biểu tượng Chi Mão chính là hình tượng và tên gọi con THỎ Trung Quốc chứ không phải là hình tượng và tên gọi con MÈO Việt Nam. Sự thật khách quan này cũng chính là một chứng cứ khoa học dùng để phê bình và phủ nhận giả thuyết thiếu khoa học, nặng tinh thần “tự tôn dân tộc” khi đưa ra lập luận: Khởi đầu tên gọi của 12 Địa Chi chính là tên gọi của 12 con giáp  của VN và nói riêng về biểu tượng con MÈO là hình ảnh và tên gọi ban đầu của Chi MÃO...

    Hôm nay: 19/11/2017, 2:32 am