Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


December 2018

MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      

Calendar Calendar

Khách thăm







Đi lại từ đầu - 2 .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 849
Join date : 31/01/2008

Đi lại từ đầu - 2 .

Bài gửi by Admin on 4/12/2018, 3:52 pm

Có 1 chứng cứ đảm bảo sự chân thực của chuyện họ Hồng bàng ít người để ý đó chính là tên gọi nước Xích qủy ;

Như đã trình bày : Xích qủy thiết Thủy , Thủy là nước ;từ nước ở đây không là 1 loại chất lỏng mà là Dịch tượng của phương Nam , nước biến âm là nác – Lạc .

Từ Thủy – Nước – Lạc là danh từ riêng quốc hiệu của quốc gia cổ đại tiền thân Việt Nam ngày nay về sau người Việt đã biến danh từ riêng quốc hiệu quốc gia mình thành danh từ chung chỉ mọi quốc gia .

 

Trong đồ̀ hình Hà thư : cặp số 1- 6 có phương vị đối đẳng với cặp 2- 7 ở hướng xích đạo hoặc phía trên xuyên qua tâm là cặp số 5 – 10 . Kho chữ của các chi tộc con cháu dòng Hùng còn nhiều dấu tích của việc đã vận dụng Dịch học để tạo tra từ ngữ :

*Số 6 tượng trưng cho đất hay nước ở dưới đối lại với Trời trên cao ; trong Việt ngữ Lục > lạc – nác – nước nhưng Hoa ngữ Lục lại ngh̃ia là đất và thật lí thú khi ngôn ngữ Thái – Lào và nhánh inđonesien phía Tây nói chung âm Đất > Đăk lại có nghĩa là nước – thủy , trong tiếng Thái – Lào từ Nam của phương Nam > nậm danh từ chung chỉ sông nước .

*Cặp số 3-8 trấn phía Đông Hà thư , Việt ngữ đọc là 3 – Ba và 8 – Tám nhưng Hoa ngữa lại đảo ngược lại :3 – Xám còn 8 – Bát , ta có thể nhận ra ngay Ba biến âm ra Bát và Tám ra Xám nhưng về nghĩa thì ngược lại với nhau .

Về mặt ngôn ngữ con cháu họ Hùng còn nhiều đều lí thú khác không thể kể hết nhưng có thể kết luận đấy là nhiều cành của 1 gốc , sư phân li và tiến triển riêng rẽ đã tạo ra sự khác nhau trên cái nền chung ban đầu , thử hỏi chỉ tính thời Xuân Thu chiến quốc thì thời gian chia cách biệt lập cũng cả ngàn năm nên việc không còn tiếng nói giống nhau là chuyện đương nhiên .

Người Việt cũng vận dụng tài tình các số cuả Hà thư vào lịch sử mình , số 5 trung tâm được đưa vào lãnh thổ với tên gọi là vùng Ngũ lĩnh , tên đất Giao hay Giao chỉ – chỗ Giữa cũng đẻ ra từ số 5 này , đặc biệt cặp số 10 – 5 trung tâm Hà thư đã trở thành quốc hiệu : bộ 10 – 5 , bộ 10 – 5 chính là Giao chỉ bộ trong cổ sử hàm nghĩa là Trung quốc trong ngôn ngữ ngày nay , do không biết là lịch sử họ Hùng tạo lâp trên nền ngôn ngữ Dịch học người ta đã biến Bộ 10 – 5 thành ra …15 bộ chẳng nghĩa ngọn gì rồi tự lí giải với nhau…đấy là quốc gia do 15 bộ tộc hay 15 bộ lac hợp thành .

Căn cứ vào Dịch học thì đế màu Vàng trung tâm của Ngũ sắc đương nhiên và chỉ có thể làm vua ở bộ 10 – 5 tức Giao chỉ – chỗ giữa , Kinh Dương hay Canh Giang vương phải là thủ lãnh của đất phương Nam – Thủy màu Đen (nay là phương Bắc) không thể khác được .

Tư liệu cổ đại cho biết đất Giao – Giữa có 2 phần , phần Cao Giao là đất Giao phía Bắc xưa tức ở về phía Xích đạo và phần Giao Thường đất Giao phía Nam ở phía Nam xưa (nay đảo là Bắc) , thường ở ̣đây mang nghĩa là thường thường , bình thường , thường dân đối lại với cao trong cao sang cao qúi cao cả , 2 phần đất Giao – Giữa này cổ sử Trung hoa gọi là ̣đất Đào và đất Đường, con dân của đế Đường Nghiêu được gọi là Đảo – Đường thị .. Ông Giao Thường đã từ đất Giao – Giữa mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao tức mở rộng lãnh thổ về hướng Nam xưa , sau đế Đường Nghiêu gả con và truyền ngôi cho ông Thuấn tức ông Diêu trọng Hóa , đế Thuấn lên ngôi và định đô ở Nam Giao tức phần đất mới mở mang phía Nam Giao chỉ , sách sử gọi là Ngu Thuấn và 2 thời đế Nghiêu và Thuấn thường được gộp chung gọi là thời Đường Ngu . Trong tục danh Diêu trọng Hoá thì trọng chỉ con trai thứ 2 , Diêu là biến âm của Giao , hoá là biến thành- hoá ra ; danh xưng Giao Hóa chỉ ra đế Thuấn là người đã nhập đất Nam Giao vào với Giao chỉ bộ . Ngu biến âm ra Ngô , chứng tích ngày nay về đất gốc của đế Thuấn là vùng Ngô châu ở Đông Bắc Quảng Tây , Đế Thuấn ở Ngô châu khiến truyền thuyết Thuấn tuần du phương Nam và mất ở sông Tương Hồ Nam trở thành hoàn toàn hợp lí . Ngô châu xưa là đất Đồng của dòng vua Thương nên ngày nay người Quảng Tây được gọi là người Choang Đồng , giới nghiên cứu đã xác nhận sự liên quan đặc biệt về dòng máu giữa người vùng Thương Ngô – Ngô châu và con cháu người nước Ngô xpa ở Hạ du Trường giang ,nhưng lại nhận định ngược …người Thương Ngô -Ngô châu Quảng Tây là tộc người đã di cư từ nước Ngô xưa tới .

Sử thuyết Hùng Việt cho đế Thuấn chính là ông tổ cao nhất của nhà Thương và Thương Ân , lãnh thổ chính nằm 2 bên bờ Nam – Bắc Trường giang . Vua Bàn Canh đã dẫn dân từ bờ Nam ngày nay vượt Trường giang sang bờ Bắc định cư không phải là từ bờ Bắc vượt Hoàng hà xuống khai hóa văn minh cho vùng bờ Nam ngày nay như sừ Trung quốc viết .

Bên cạnh dòng sử Hàn lâm đầy những từ cực cấp làm mờ đi diễn biến thực trong qúa khứ khiến người đời sau khó nhận ra nếu chịu khó tìm hiểu ta thấy còn có dòng sử dân gian giản dị nhưng chân thực :

Đế Vàng truyền ngôi cho ông Giao Thường thủ lãnh đất Giao phía Nam , ông Giao Thường truyền ngôi cho ông Giao Hóa người đã góp công mở rộng đất Giao về phía Nam là miiền đất sách Thượng thư gọi là đất Nam Giao , ông Giao Hoá truyền ngôi chô ông Cao Mật , Xin lưu ý cổ sử Trung Hoa không nói đến 1 đất Giao nào khác ngoải Giao chỉ .

Ông Cao Mật chính xác là Cao Một , Cao là đấng Cao cả chỉ thủ lãnh , Cao Một là đế hay vương đầu tiên tức vua kiến lập vương quốc Thiên hạ . Ông Cao Một mất con là Khải kế ngôi lập ra nhà Hạ và Tôn vinh cha là vương tổ của triều đại . Sử thuyết Hùng Việt cho Khải là biến âm của Khởi tiếng Việt nghĩa là bắt đầu chỉ thủ lãnh đã lập ra triều đại đầu tiên của Thiên hạ . Điểm son trong văn hóa là lối viết thời này được gọi là Khải thư – chữ Khải , khải biến âm ra khẩu , khẩu thay bằng phiên thiết là Khoa Đẩu chính là loại chữ Nho hiện đang sử dụng . Kinh đô thời nhà Hạ trung hưng là Dương thành , sử thuyết Hùng Việt cho đây chính là Dương thành ở Quảng châu hiện nay nơi có số đông dân là người Hẹ , Hẹ và Hạ là 1 , nói khác đi người Hẹ chính là người ở kinh đô nhà Hạ thời xưa . Hiện nay Đại Vũ – vua Lớn còn đền thờ ở Cối kê thuộc tỉnh Triết giang .

Dòng sử dân gian viết trên đem so lại với thực địa đã cho thấy diễn biến lịch sử Thiên hạ trong quá khứ xa sôi đã diễn ra ở Hoa Nam , Việt Nam và Đông Nam Á , điều này hoàn toàn hợp lí cả trong 2 mặt thời gian và không gian , về mặt chủng tộc thì đấy chính là quá khứ của người Nam Mongoloid , Mông Mãn Hung Hồ Nhung Thổ Quan Liêu đám dân gọi chúa là Hãn rồi Hãn biến ra Hán chẳ̉ng liên quan gì đến Tam Hoàng Ngũ đế Tam đại tiền nhân của người Thiên hạ .

    Hôm nay: 15/12/2018, 3:34 pm