Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


December 2018

MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      

Calendar Calendar

Khách thăm







Dịch học, tiếng Nôm và trống đồng

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 849
Join date : 31/01/2008

Dịch học, tiếng Nôm và trống đồng

Bài gửi by Admin on 7/6/2018, 4:16 am

Bách Việt trùng cửu – nguồn http://asakicorp.com/bachviet18/?p=3117

Bài trình bày trong hội thảo Kinh Dịch với người Việt do Trung tâm minh triết và Trung tâm Lý học phương Đông tổ chức ngày 2/6/2018.

Đối với phương Đông, Dịch lý là nền tảng của sự phát triển của xã hội và văn hóa xa xưa từ những trang lịch sử đầu tiên, thể hiện thế giới quan của cộng đồng tộc người đã làm nên Dịch học. Vì thế ngôn ngữ, văn vật và địa lý của cộng đồng này sẽ là mối liên hệ trực tiếp cho phép khám phá các ý nghĩa của Dịch học. Hoa ngữ và địa lý nước Tàu hiện nay không làm được điều này bởi chủ nhân thực sự của Dịch học không nói thứ tiếng đó và không ở chỗ đó. Tiếng Việt, trống đồng của người Việt và mảnh đất Việt Nam ngày nay mới là quê hương chân xác của Dịch lý. Bài viết sau so sánh, đối chiếu các yếu tố văn hóa địa lý Việt với các dịch tượng trong Dịch học để tìm lại nền móng căn bản của Dịch lý, đồng thời góp phần khẳng định chủ nhân tác Dịch chính là người Việt trên mảnh đất Việt ngày nay.

Nôm na là cha mách qué


Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: “Nôm na là cha mách qué”, xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng, nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì chưa thấy có ai giải thích cặn kẽ. Thực ra, câu thành ngữ này “Nôm na là cha mách qué” có nghĩa rất đặc biệt, là chiếc chìa khoá giúp ta đi vào Dịch học. Xin giải nghĩa thành ngữ trên như sau:
– “Nôm” là biến âm của “Nam”, chỉ nước Việt người Việt. Từ Nôm trong câu này chỉ chữ Nôm, từ Nôm hay âm Nôm. Nói chung ý trong câu là chỉ tiếng nói của người Việt Nam.
Ngày nay thường hiểu từ Nam là chỉ riêng người Việt Nam. Thực ra đây là từ chỉ chung cả khối Bách Việt. Thời Nguyên Mông nói chung thì người phía Bắc sông Dương Tử gọi là người Hán, phía Nam Dương Tử gọi là người Nam.
– “Na” tức “na ná”, nghĩa là “gần giống với”.
– “Cha” đồng nghĩa với thầy, cũng có thể hiểu là thầy dạy học, người chỉ dẫn.
– “Mách” là chỉ bảo, chỉ dẫn, nghĩa như trong mách bảo, mách nước v.v.
– “Qué” ở đây biến âm của từ Quái trong Hoa ngữ, hay Quẻ trong tiếng Việt, chỉ 8 quẻ căn bản của Dịch học. Quẻ đơn là Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.
Như vậy nghĩa của câu “Nôm na là cha mách qué” là: Na ná hay gần giống với từ Nôm là thầy chỉ bảo về ý nghĩa các quẻ Dịch. Có thể viện dẫn các ví dụ trong Dịch học để chứng tỏ ý nghĩa này:
– Quẻ Kiền hay Càn, chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là “cồng kềnh” hay “kềnh càng”.
– Quẻ Đoài là biến âm của “điều” hay “đào” tức màu đỏ.
– Quẻ Ly là biến âm của “lửa”, tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời.
– Quẻ Chấn là biến âm của “sấm”, Hoa ngữ là “lôi”.
– Quẻ Tốn hay Toán, tức “tính toán “ trong tiếng Việt, chữ cổ còn gọi là “tán”.
– Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là “cóng”, tiếng Việt thường dùng từ kép “lạnh cóng”.
– Quẻ Cấn còn gọi là Căn, nghĩa tiếng Việt là “cán”, là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc v.v.
– Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ, tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc.
Xem xét kỹ thì không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do “Nôm na” mà ra như:
– Giáp là “chắc” trong “chắc chắn”.
– Ất là “óp” như trong “óp ép”.
– Bính là “bấn” trong “bấn loạn”.
– Đinh là “đanh” trong “cứng như đanh”.
– Mậu là “mẹ”.
– Kỷ là “cả”.
– Canh là “nước canh”, cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang.
– Tân là “tâng”, tưng, tung lên, chỉ trục đứng.
– Nhâm là “nhũn”, nhung trong “mềm như nhung”.
– Quý hay Khang là khăng, “khăng khăng” không đổi.
Thực kỳ lạ, tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái… không mang một ý nghĩa gì trong Hoa ngữ. Nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi “Nôm na” thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ “Nôm na” mà ra: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái…”. Cực, nghi, tượng, quái v.v. đều là những “đặc từ” chỉ dùng trong Dịch học, phải có công “tu luyện” mới thấu đáo…
Khi dùng “nôm na pháp” vào đây ta có: “1 cục, hay cuộc, sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 tòa, 5 hình, 9 chỗ v.v. Thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người “bình dân” ai gặp cũng hiểu ngay, chẳng phải là “đặc ngữ đặc từ” chi cả. Có thể nói, khi “Nôm na” thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người, trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ, nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết, mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị?
Dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định, Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người Nam hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt, tức người Việt Nam ngày nay.


Chữ nguyên hình “điểu thú văn”


Trên mặt tất cả trống đồng loại 1, tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm khắc hình chim và nai, sau đó là cảnh sinh hoạt, đánh trống đồng, đo bóng mặt trời, cảnh chiến binh trên thuyền v.v. Mặt trời được người Việt cổ coi là nguồn sáng và nguồn sống cho muôn loài. Với quan niệm cha trời mẹ đất, tổ tiên ta đã hiểu rõ những gì thu hoạch được từ đất như củ, quả… không thể có được nếu không có ánh nắng mặt trời. Điều này thật đời thường nhưng cũng rất khoa học. Lúc đó người ta làm gì biết đến diệp lục tố và sự quang hợp như chúng ta ngày nay. Nhưng bằng sự quan sát và so sánh việc được mùa và không được mùa có liên quan chặt chẽ tới sự chiếu sáng của mặt trời người xưa đã hiểu được có sự phối hợp giữa trời và đất để ban của ăn nuôi sống con người, Từ đó hình thành quan niệm lưỡng hợp. Một phía là cái cụ thể có thể nắm bắt là đất, một phía ta biết rõ ràng, có đấy nhưng không thể nắm bắt đó là những gì đến từ trời. Dần dần tổng kết thành các quy luật trời đất có âm, có dương, ý niệm khởi nguồn của Kinh Dịch.
Với quan niệm mặt trời là nguồn sáng, cổ nhân coi mặt trời là khởi nguồn của văn minh, của sự sáng suốt, vì không có ánh sáng mặt trời thì bóng tối che phủ, không thể phân biệt được cao thấp, xấu đẹp, không gian trở thành một khối hỗn mang và trong màn đêm đó không biết bao sự rình rập của quỷ dữ, của ác thú, sinh mệnh con người mong manh biết bao nhiêu, và mọi vật chỉ trở nên sống động thực sự khi mặt trời ló dạng, từ đó con người sùng bái mặt trời. Với người Việt sự sùng bái đã gần như một ý thức về tôn giáo: đạo thờ Trời, thờ ông Thiên và hình ảnh biểu tượng là mặt trời. Với vị trí là tâm điểm trên trống đồng, mặt trời là trung tâm của vũ trụ. Điều này chắc mới dừng ở ý niệm siêu hình, nhưng trong đó ta đã thấy thấp thoáng bóng khoa học rồi.
Trên trái đất không biết bao nhiêu loài thú, tại sao chim và nai lại được coi trọng ngang hàng với con người, được kết hợp với người để tạo thành thế giới 3 thành phần trên mặt trống, coi như hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ?
Ta trở lại với Dịch lý. Mọi người đều nhất trí coi Hà và Lạc là một phần của Dịch lý, hoặc là cách diễn đạt Dịch lý thông qua các nút số, một loại diễn đạt khác với Dịch lý vạch quẻ của Bát quái. Vậy Hà là gì và Lạc là gì? Trải qua mấy ngàn năm, các cuộc tranh luận của các bậc trí giả “nhìn xa trông rộng” vẫn còn tiếp tục xảy ra, nào là long mã, nào là thần quy, người thì bảo là thần vật xuất hiện ở Hoàng Hà, rồi Mạnh Hà, rồi Lạc Thủy… Sở dĩ như vậy là tại các vị nhìn một vật ngay trước mắt qua “kính viễn vọng” nên hậu quả là… vẫn còn cãi nhau.
Thật ra khi ta nhìn bằng mắt trần thì sự việc trở nên đơn giản: Hà nghĩa là Trời, Lạc là biến âm của Lục, nghĩa là Đất. Hà Lạc là Trời và Đất, rất rõ ràng. Chính xác phải gọi là Hà thư – Lạc đồ, chứ không thể gọi ngược như trước đây được. Hà thư tức Thiên thư. Lạc đồ cũng là Địa đồ.
Thông điệp trên mặt trống đồng rất rõ ràng. Mặt trời là trung tâm và ở các vòng đồng tâm kế tiếp nhau là Hạc – Nhân – Lộc, tức trên là trời, giữa là người, dưới là đất nối tiếp “chạy” quanh mặt trời. Ta có:
Trời = Hà  → Hạc: chim Hạc hay hồng hạc.
Đất = Lục → Lộc: con nai.
Từ sự việc này gợi ra một ý kiến là: chữ “tượng hình” không phải là loại chữ cổ xưa nhất mà là sự tiếp nối một loại chữ khác có trước, tạm gọi là chữ “nguyên hình”. Ta liên tưởng trong Kinh Dịch phần Thuyết Quái, Khổng Tử viết: “… Ngày xưa họ Bào Hy ngẩng lên xem tượng trời, cúi xuống xem thế đất… quan điểu thú chi văn …” rồi tổng kết lại thành các quy luật Dịch lý. Câu “quan điểu thú chi văn” được hiểu là “nhìn các nét “văn” trên (mình) chim, thú… Nay ta có thể hiểu khác đi là đã có một loại chữ có tên là “điểu thú văn”, tức chữ “nguyên hình”, từ trước khi họ Bào Hy tác Dịch.




Lạc đồ đặt nằm ngang và những chữ nguyên hình.

Trong bối cảnh Văn hóa Á Đông ta có thể tìm thêm 4 chữ “nguyên hình” nữa ngoài các chữ “chim hạc” và “con nai” (= Trời và Đất).
Hướng Xích đạo là vùng nhiệt đới được tượng trưng bằng con Hổ. Hổ là biến âm của Hoả, là lửa. Tính của lửa là nóng.
Ngược với lửa là nước, nơi vùng nước này có rất nhiều con Sấu. Sấu là biến âm của Xíu, là nước (âm Quảng Đông). Trong truyền thuyết lịch sử Việt Nam nó là con thuồng luồng, một loài thủy quái hại người. Sau này do biến cố khí hậu loài Sấu ở phía Bắc (cứ tạm gọi như tên hiện nay) bị tiêu diệt nên người xưa thay thế bằng con rùa, tức Quy.
Hướng Đông là biển nên biểu tượng bằng thần vật có công hút nước làm mưa mà người xưa gọi là Rồng hay Long. Trong văn hóa Việt – Hoa, Rồng được coi là chúa tể cai trị thế giới biển cả.
Ai đã từng học Dịch lý đều biết quan điểm hướng Đông là phương động, tượng trưng bởi quẻ Chấn, cũng gọi là quẻ Thìn tức quẻ con rồng. Chính xác phải gọi là hướng động vì Đông là biến âm của động. Theo nguyên lý đối lập của Dịch, phương Tây là tịnh như trong Thuyết Quái của Dịch: cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh. Phương Đông: mềm mà động. Phương Tây: cứng mà tịnh, định.
Việt ngữ có từ kép “định đoạt” để chỉ phương Tây. “Định” là chỉ bên không thay đổi. “Đoạt” là tên khác của quẻ Đoài.
Phương Tây là phương tịnh và ở đó có rất nhiều voi, nên con voi trở thành chữ “nguyên hình” là Tịnh, con tịnh. Như thế ta có thể coi chữ “nguyên hình” là loại chữ tối cổ. Đó cũng là điểm xuất phát của chữ “tượng hình” sau này.
Tổng số ta có được 7 “chữ”:



  • Mặt trời là Trung tâm.
  • Hạc = Trời.
  • Lộc = Đất.
  • Hổ = phương nóng, Xích đạo.
  • Sấu, Quy = phương nước, ngược với phương nóng.
  • Long, Rồng = phương Đông.
  • Tịnh = phương Tây.


Xác định như trên ta có thể khẳng định đất nước Trung Hoa hiện nay không thể là quê hương của Dịch lý được vì không thể tìm được vùng đất nào của Trung Hoa mà phương Đông là biển và phương Tây có voi. Chỉ có miền Trung của Việt Nam mới hội đủ tính chất chỉ định của 6 chữ “nguyên hình” hay “điểu thú văn” như phần trên. Loài Hổ Đông Dương ở Trường Sơn và Nam Lào đã nổi tiếng từ lâu rồi. Về hướng Bắc thì đồng bằng Bắc Bộ vài ngàn năm trước là vùng đầm lầy, chắc chắn lý tưởng cho loài Sấu. Về hướng Đông là biển, đúng là quê hương của Rồng và hướng Tây thì chỉ tên nước Lào “Triệu Voi” cũng đủ minh chứng cho sự khẳng định trên.
Trong lãnh vực tâm linh, tất cả các đền, miếu của Việt Nam đều có hình Hạc hay Hồng Hạc đứng trên mai Rùa tượng trưng cho Trời và Đất. Như thế đã đủ 6 con vật tượng trưng cho 6 cõi của 1 không gian 3 chiều. Người xưa đã dùng những con vật nổi trội ở một vùng đất như một dạng thức chữ, là chữ “nguyên hình”, để chỉ 4 phương. Còn Trung tâm là nơi sinh tụ của cộng đồng người cổ đã tạo nên Dịch lý.
Dịch lý đã là tài sản của cả nhân loại, phát nguyên từ đâu không phải là điều quan trọng đối với thiên hạ. Nhưng đối với người Việt Nam thì khác, nếu không thể làm sáng tỏ về quê hương Dịch lý thì mắc lỗi với tiền nhân. Người xưa đã lao tâm khổ tứ biết bao mới có thể ký thác được những giá trị vĩnh hằng vào trong đấy, làm tài sản cho con cháu vào đời. Quá khứ không phải qua đi là hết. Dòng linh khí từ quá khứ sâu thăm thẳm vẫn liên tục chảy về hiện tại, tạo thành sức mạnh tâm linh vô song cho mỗi người. Dù tiếp nhận trong vô thức, dòng linh khí đó trở thành bản lĩnh sống, thành năng lực bẩm sinh của trí tuệ. Đấy cũng là lý do để ta nỗ lực vượt bực mong tìm được đích xác nguồn gốc dòng giống của mình. Xác định cho được bản quyền dân tộc trên Dịch lý, một siêu phẩm của minh triết và khoa học.


Dịch học và đồ đồng Đông Sơn


Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng vua Hùng đã già nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua ra lệnh cho các hoàng tử (các “lang”) ai dâng lên cho vua được món ăn ngon nhất và ý nghĩa nhất sẽ được vua truyền ngôi. Trong khi các anh em đổ đi khắp nơi để tìm của ngon vật lạ thì hoàng tử Lang Liêu vốn cảnh sống rất thanh bạch và không muốn dành ngôi vua nhưng bản tính hiếu thảo nên vẫn băn khoăn không biết lấy gì dâng cho vua cha. Chợt tối ngủ Lang Liêu được một vị thần hiện ra chỉ dẫn: Lấy gạo nếp tinh tuyền đã nấu chín giã ra làm bánh màu trắng hình tròn, đặt tên là bánh dày. Lấy gạo nếp đổ trên lá, giữa cho nhân đậu xanh và thịt heo gói lại thành hình vuông đem luộc chín gọi là bánh chưng. Khi dâng vua, vua cha cho các món ngon vật lạ của các hoàng tử khác đều là tầm thường.
Riêng bánh dày và bánh chưng của Lang Liêu được vua khen ngon và hỏi ý nghĩa thì Lang Liêu tâu: Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho trời. Bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho đất. Vua khen trời tròn đất vuông là trọn ý nghĩa của đạo trời đất và vua quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu.




Trống đồng vuông tròn.

Ta thử giải mã từ “Lang Liêu” trong truyền thuyết trên. Lang là từ Thái ngữ, có nghĩa là thủ lãnh, biến thể sang Hoa và Việt ngữ là Long, nghĩa là con rồng hay Vua. Lang là biến âm của Năm, số 5 trung tâm của Hà thư – Lạc đồ: năm → lăm → lang. Liêu là biế́n âm của Lử̉a chỉ phương nóng, vùng nhiệt đới, hướng Xích đạo, biến âm ra: lửa → ly → la → lê → liêu → lý… Lang Liêu có nghĩa là “vua La” hay vua của người La, Liêu, Lý… “Bánh chưng bánh dày” là biến âm của “bánh trăng bánh giời” hay “bánh trăng bánh trời”.
Bánh dày hình tròn, bánh chưng hình vuông biểu thị cho nguyên lý cơ bản của Dịch học. Trời tròn chỉ sự vô hình vô ảnh… Những gì vẫn có đấy nhưng thị giác con người không thể cảm thụ được. Đường tròn biểu thị sự liên tục không đứt đoạn, khi chuyển sang hệ ký hiệu vạch là vạch liền ────. Đất vuông chỉ vậ̣̣t chất hữ̃u hình, hữu hình nên hữu hạn, biểu thị sự hữ̃u hạn là bờ và mốc, tức 4 cạnh và các góc của hình vuông. Trong hệ ký hiệ̣̣u vạch là vạch đứt chỉ sự gián cách ──   ──. Tròn và vuông cũng chỉ là tên gọi khác của Âm và Dương mà thôi.
Truyền thuyết nói Trời chỉ dạy cho Lang Liêu làm ra bánh Chưng bánh Dày, đồng nghĩa với sự truyền dạy cho hậu thế rằng: vua La là người đã làm ra Dịch học, người La là chủ của thuyết Lưỡng nghi – Tam tài sinh hóa vạn vật.
Lang Liêu là ai và đạo Tròn vuông có liên quan như thế nào với người Việt?
Trên mặt tròn của nhiều trống đồng có 4 hình cóc đắp nổi. Đấy chính là biểu tượng của nguyên lý trời tròn đất vuông. 4 con cóc biểu thị cho 4 góc của hình đất vuông trên mặt trống tròn của trời. 4 con cóc là 4 tiếp điểm của hình vuông và hình tròn. Người chế tạo ra trống đồng nói rất rõ:
Cóc là biến âm của góc hình vuông, cóc → góc (tương tự như: Kà → gà; Cái → gái).
Sự biểu diễn dịch học trên đồ đồng Đông Sơn còn thấy rõ hơn ở mặt thạp đồng Đào Thịnh đã tìm được. Ở nắp thạp đồng tròn 4 con cóc đã được thay bằng 4 cặp nam nữ đang giao hợp, ý chỉ 4 điểm giao của hình vuông và tròn cũng là giao điểm của trời và đất, âm và dương. Trống đồng người Việt xưa gọi là “cối đồng”, Hoa ngữ dịch ra “đồng cửu”, rồi biến âm thành “đồng cổ”. Cửu là cái cối, biến ra “cổ” là cái trống.




Thạp Đào Thịnh.

Tóm lại là có sự liên quan rất rõ ràng giữa Dịch học và trống đồng, hay rộng hơn là đồ đồng Đông Sơn. Sự khẳng định này khiến ta không thể lý giải vì theo chính sử Trung Quốc thì Văn Vương tác Dịch ở tận Thiểm Tây, Bắc Trung Quốc hiện nay và vào thủa ấy người Việt không hề biết Dịch lý là gì, cũng như Văn Vương không hề biết mặt mũi trống đồng, thạp đồng ra sao… Nhưng với những gì đã biết như trên, ta không thể nào kết luận khác hơn là “dân trống đồng”chính là chủ thể đã tác tạo ra Dịch học.
Dịch học còn có cặp quẻ Khiêm nhường – Dự phần, gọi tắt là Khiêm và Dự. Sự sáng suốt nơi con người mách bảo vạn vật và xã hội phát triển theo những quy luật. Các quy luật thì trường tồn và bất biến, con người không thể thay đổi một cách chủ quan, tùy tiện. Công thức về sự chủ động phát triển là: Khiêm nhường – Dự phần.
Muốn “dự phần” hay tham gia cùng trời và đất trong việc biến đổi vũ trụ con người phải biết tôn trọng và vận dụng các quy luật tự nhiên. Một thành tựu đạt được luôn là sự hợp tác con người – tự nhiên. Con người không thể thay đổi quy luật nhưng có thể tác động ở đầu vào để nhận được kết quả ở đầu ra. Như thế gọi là Khiêm và Dự, Dự chính là dự phần vào việc tái tạo vũ trụ.


Ý nghĩa quẻ Dự = Lôi/Địa: Dự nghĩa là tham gia vào là cùng trời cùng đất tạo thành bộ mặt vũ trụ, tài nhân ngang hàng tài thiên, tài địa trong thế tam tài của Dịch học. Một quan điểm triết lý tôn vinh con người rất tiến bộ so với thời đại ấy.
Lời quẻ Dự: Lợi kiến hầu, hành sư.
Quẻ Dự tạo thành bằng quẻ Lôi trên quẻ Địa, sấm nổ trên đất chính là tượng của trống đồng. Lợi kiến hầu nghĩa là dùng vào việc phong tước hầu. Hiện nay có những nhà nghiên cứu lịch sử cho trống đồng là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu. Nó tựa như một loại ấn tín sắc phong vậy. Đặc biệt trong lễ nghi đạo hiếu của Việt Nam thì các bậc vương hầu dùng trống đồng thay mặt người dân của mình để tế tổ tiên của cộng đồng. Chữ “lợi” ở đây có nghĩa là “được dùng để” (ngờ rằng sau chữ “lợi” còn có chữ “dụng” nhưng bị bỏ mất). Lợi kiến hầu nghĩa là dùng trong việc phong tước hầu. Lợi hành sư nghĩa là dùng để hành quân, quân theo tiếng trống mà tiến hoặc lùi hoặc sang phải, sang trái, công hoặc thủ v.v. Trống đồng trở thành một quân khí dùng trong quân sự.
Lời tượng của quẻ Dự: Lôi xuất địa phấn, dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo. Dịch nghĩa: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Trống đồng còn gọi là trống sấm, là loại trống duy nhất khi đánh để úp xuống đất, nên lời tượng nói: lôi xuất địa phấn. Tiên vương tức tiên đế nhà Chu là Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công… Chữ “tác nhạc” cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế. Nó chính là tổ tiên của văn hóa cồng chiêng ngày nay. Nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn đang đặt câu hỏi: trống đồng dùng để làm gì hay công dụng của nó ra sao? Lời quẻ và lời tượng quẻ Dự đã chỉ rõ 3 công dụng:



  1. Trống đồng dùng như một lệnh bài sắc phong tước vị.
  2. Dùng làm hiệu lệnh điều quân.
  3. Dùng trong âm nhạc ở các buổi tế lễ long trọng.


Qua lời quẻ và lời tượng của quẻ Lôi/Địa Dự việc liên hệ giữa Dịch học và trống đồng là điều không thể phủ nhận. Chỉ với những khám phá trên đủ khẳng định: Dân tộc là chủ nhân của trống đồng cũng chính là dân tộc đã sáng tạo Dịch học. Dịch học dứt khoát không phải là sản phẩm của nền văn minh Hán. Dân tộc sống ở lưu vực Hoàng Hà không hề biết trống đồng là gì vào thời những chiếc trống đồng cổ xưa nhất được dùng.

Trống đồng, bức thông điệp ngàn năm


Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời, do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau. Ở đây bàn về thông điệp trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm.



Tâm trống và vòng đồng tâm số 1: nhân sinh quan Việt

Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng. Vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người.
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế. Điều  này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho “ông trời” siêu hình.
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi: “Trời đất ơi! Cha mẹ ơi!”.
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống. Trong tiếng Việt “sáng” và “sống” gần như là một âm. Phần hồn, tức anh linh nơi con người chính là một phần của cái khối sáng vĩ đại ấy, đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng. 6 hào của quẻ Kiền là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao.
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời. Chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy. Quẻ Lôi/Địa Dự viết: “lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo” cũng là lẽ này. “Cầu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng” đã chỉ ra: anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao…
Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt, có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi. Hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ.
Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi, đấy là triết lý về sự sống – chết của người Việt đã được Kinh Dịch thể hiện. Hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện “nhân sinh quan” của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh, có biến đổi ắt có tử. Duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử. “Sinh” là từ cõi Hằng bước sang cõi “Biến”. Qua một thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi “đời” rồi “tử”, tức là trở về nơi đã ra đi. Người đời nói  “sinh ký tử quy” (sống gửi thác về) nghĩa là vậy. Nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy. Vì qua thời gian ở cõi “biến” ta đã thành người khác. Sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ỵ́ thức và chủ động trong hành vi của mình.
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới. Chữ Hiếu được nâng hẳn lên thành một tôn giáo, gọi là đạo “Hiếu” hay đạo thờ ông bà. Cao nhất là thờ ông ‘Thiên”, tổ của cả loài người. Với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ “thành hoàng”, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ “gia tiên”… Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ – hiện tại – tương lai, sống và chết, là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt. Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ. Lúc đó ăn làm sao, nói làm sao? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ. Công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay “siêu bịp” thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời.


Vòng đồng tâm thứ 2: xướng danh dân tộc

Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ, con gái Động Đình Quân. Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam. Long Nữ hay Long Mẫu, con gái Động Đình Quân – vua phương Đông. Sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt. Cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là “con Rồng cháu Tiên”.
Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này đều xuất phát từ Hà thư. Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía Nam, số 8 nằm ở phía Đông. Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương Nam còn là phương của Đế Tiên hay bà Vũ Tiên. Vì lẽ này người Việt mới nhận mình là “cháu Tiên”.


Hà thư.

Theo Hậu thiên Bát quái phương Nam, số 6 còn là phương của nước, tức quẻ Khảm. Nước tiếng Việt cổ là nác – lác – Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt.
Trong Hậu thiên Bái quái phương Đông, số 8 là quẻ Chấn hay Thìn, tức con Rồng. Hoa ngữ là Long.




Hậu thiên bát quái.

Tới đây đã rõ câu “con cháu Tiên-Rồng” hay dòng giống Lạc – Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương –  Tuấn Lang.
Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10 con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã  sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5, là số lẻ.
Các nút trắng – chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen – lẻ được thay thế bằng con nai.
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn:



  • 10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương Nam, con cháu của Kinh Dương Vương.
  • 10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông, con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu.


Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh tính của chủ nhân trống đồng Ngọc Lũ. Dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên – Rồng hay Lạc – Long, Tiên – Long, xác lập bởi các cặp số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là: người nước ngoài ở phía Nam và Đông nước ta. Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là: người họ Hùng, thuộc chi phương Trung – Nam và chi phương Trung – Đông.


Vòng đồng tâm thứ 3: ước vọng dân tộc trường tồn

Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất. Từng cặp như vậy nói lên   sự nối tiếp liên tục, hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên, cứ như thế mà tiếp nối mãi.
Trong Dịch học chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của điểu thú văn chỉ Trời cao, chỉ thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể. Hà → hạc. Con nai Hoa ngữ là Lộc, biến âm của “lục”, là số 6, cũng là Đất, cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ Đất, chỉ không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể.
Trong danh sách 18 đời Hùng Vương có vị vua Hùng Việt Vương hiệu Tuấn Lang, Đây cũng chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh quốc chúa đại vương. ‘Tuấn” là tên chữ ký âm của ‘Tản” tiếng Việt. Sơn Tinh cũng là một vị Kinh Dương Vương (canh = 6, giêng = 1), nghĩa là chúa phương Nam vì trong Tiên thiên Bái quái quẻ Cấn là sơn – núi, chỉ phương Nam.
Truyền thuyết nói Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ, phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra “dòng giống tiên Rồng” ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang? Từ “người Việt” bắt đầu có từ đây.
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim Diệc. Diệc là  phát  âm của người Nam Bộ. Âm Bắc là Việt. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương – Tuấn Lang.
Số 9 là “cửu”. Cửu cũng có nghĩa là lâu dài. 18 là trùng cửu (9×2), đồng âm với “trường cửu”, nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này, như họ kiêng số 4 vì đọc là “tứ”, cận âm với “tử”, là chết. Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan – tài… vì “quan” ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, “tài” hiểu là tấn tài tấn lộc, nghĩa là chúc có thêm tiền.
Như thế những hình tượng trên vòng đồng tâm thứ có nghĩa sau:



  • Chim Diệc đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian.
  • Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa.
  • 18 cặp là trùng cửu (2 lần 9), cũng là trường cửu.


Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng: “Dân tộc Việt đời sau nối đời trước, cứ như thế tồn tại mãi mãi”.
Tới đây thì  ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt. Ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn, đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này… Nhưng trời xanh có mắt…
Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc Lũ đưa đến hệ quả hết sức quan trọng với người Việt:



  • “Con Rồng cháu Tiên” không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách “đồng” bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến lưu truyền 3.000 năm nay.
  • Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện “con Rồng cháu Tiên”, mà là cả một hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh, chứa đựng những thông tin của một thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử. Chỉ cần minh xác được 1 đoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta “lượng giá” về tính xác thực của cả hệ thống   truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền.
  • Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ “máu thịt” với Dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này. Những trống đồng cổ nhất có đến 3.000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn, rõ ràng nhất giúp khẳng định: Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay.


Dịch học hình tượng


Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính: hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ảnh. Đơn vị của hệ thống dấu hiệu hình ảnh là Tự hay Chữ. Tự nối kết với nhau thành Văn. Còn đơn vị của hệ thống dấu hiệu âm thanh là tiếng, nối kết nhau thành Điều. Ta hay dùng như một từ kép “điều tiếng”.
Gọi là 2 hệ chính vì còn các hệ thống dấu hiệu cá biệt khác như hệ thống chữ nổi của người mù được cảm nhận bằng xúc giác và hệ thống dấu hiệu cử chỉ dành cho người câm.
Trước khi có văn tự con người vẫn có tư duy, khám phá và chuyển giao thành quả, tức vẫn có tiến bộ. Dịch học tuần tự có 3 hệ thống:
– Dịch lý nút số.
– Dịch lý vạch quẻ.
– Dịch lý bằng văn tự.
Dịch học là tư duy của con người xưa. Vậy khi chưa có Dịch nút số con người suy nghĩ dựa trên cơ sở nào?
Trước Dịch học nút số đã có một nền Dịch học khác, đó là Dịch lý “hình tượng”, tức lấy chính các hình ảnh và hiện tượng tự nhiên làm Dịch tượng ̣để tư duy.


Khi tìm hiểu về Dịch lý ta thường nói: Càn là trời, Khôn là đất, Ly là lửa… Như thế là đã đi ngược tiến trình của Dịch học. Đúng ra ta phải nói: Trời là Càn, Khôn là Đất… vì từ những hình tượng có thực trong cuộc sống người ta mới nén thông tin vào trong các Dịch tượng tạo thành hệ thống dấu hiệu làm công cụ cho tư duy.
Dịch lý thô sơ dựa trên các hình tượng đã hệ thống hóa sau. Dịch học hình tượng lấy Trời và Đất hay bầu trời và quả đất để biểu thị cho không gian. Lấy Mặt trời và Mặt trăng để biểu thị cho ngày và đêm, tức chỉ thời gian. 4 quẻ còn lại biểu diễn cho cái không gian hẹp, tức khuôn khổ trong đó con người ta sinh sống.
Dịch học nói: tại thiên thành tượng, tại địa thành hình. Hình ảnh biển cả và đất liền được dùng để tượng trưng cho mặt địa cầu là cái nền chở đỡ và dưỡng nuôi loài người. Đất và nước luôn đi đôi trở thành từ kép “đất nước”, đồng nghĩa với tổ quốc của mỗi người.
Hiện nay người ta cho là quẻ Đoài là cái hồ, thực ra không phải vậy. Khi nói Đoài là hồ, Cấn là núi là đã giảm tầm cỡ của Dịch lý. Kích cỡ của cái hồ hay quả núi có thấm tháp gì so với sự mênh mông của mặt địa cầu nên không thể nào trở thành một nguyên tố của Dịch học. Chỉ có biển cả hay đại dương, đất liền hay đại lục mới đủ tư cách gánh vác trách nhiệm đại biểu đó.
Tại thiên thành tượng. Hai hiện tượng tự nhiên trên bầu trời có ấn tượng sâu sắc trong đầu thánh nhân khi tác Dịch là: sấm sét và bão gió. Trời thì trong suốt đâu có nhìn thấy gì đâu, nhưng qua các hiện tượng chúng ta biết vật chất vẫn tồn tại ở đó. Thứ vật chất mà Dịch học gọi là nhẹ và trong, nhận định có 2 thể loại vật chất, một là chất đục và nặng, có thể nhân biết dễ dàng, còn một thứ trong suốt nên chỉ có thể nhận biết một cách gián tiếp thông qua các hiện tượng. Ở đây Dịch học chọn sấm sét và gió bão, chỉ cái không gian bao la trên đầu con người.
Bốn hình tượng: biển – đất và sấm – gió đủ để vẽ nên sinh cảnh của con người lúc ấy.
Từ 8 hình tượng của tự nhiên người xưa đã nén thông tin tạo thành 8 quẻ của Dịch học “tự nhiên”, tức Dịch học tiên khởi trước cả Dịch học nút số. Dịch học tự nhiên là tư duy của người Việt cổ hàng chục vạn năm cho tới khi được Dịch học nút số thay thế.
Hình tượng của Dịch lý tự nhiên sau đã tạo thành 8 quẻ (Bát quái):
– Trời tạo thành quẻ Kiền hay Kiện.
– Đất tạo thành quẻ Khôn hay Xuyên.
– Mặt trời hay ban ngày tạo thành quẻ Ly hay La.
– Mặt trăng hay ban đêm tạo thành quẻ Khảm hay Cống.
– Biển cả tạo thành quẻ Đoài hay Đoạt.
– Đất liền hay đại lục tạo thành quẻ Cấn hay Căn.
– Sấm sét tạo thành quẻ Chấn hay Thìn.
– Bão gió tạo thành quẻ Tốn hay Toán.
Dịch học hình tượng là Dịch học thô sơ. Sau này khi khối tri thức lớn thêm, đầu óc càng ngày càng mở mang và khi con người đã “chất biến” thì Dịch học cũng đổi thay. Dịch học nút số thay thế Dịch học tự nhiên. Hình tượng trở thành Dịch tượng với các thông tin chứa ở trong sâu xa và trừu tượng hơn.
Các hình tượng của Dịch lý tự nhiên đã cho chúng ta các thông tin về sinh cảnh lúc ấy:


Nơi sinh sống của cộng đồng người đã phát minh ra Dịch học là vùng ven biển.

Nơi đất liền với biển, từ cảnh quan cho đến sự cung ứng thực phẩm hàng ngày đều đến từ một môi trường kép “biển và đất”, từ đó mới sinh ra lưỡng nghi “Đoài và Cấn”. Quẻ Cấn còn được coi là tượng trưng cho “núi”. Việt ngữ có từ kép “khuất núi” để chỉ sự chết. Ý nghĩa này bắt nguồn từ việc mặt trời lặn ở hướng Tây. Với ý này ta thu được thông tin: người “tác” Dịch sống ở nơi phía Tây là núi và phía Đông là biển.
Thực vậy, chỉ có sống ở nơi ven biển mới có thể nhìn thấy đường “chân trời” nơi mút tầm mắt, từ đó nảy ra ý niệm: trời như cái bát úp trên mặt đất, chân trời là nơi cái miệng chén đặt trên mặt đất. Vũ trụ quan đơn sơ này chính là khởi nguyên của “trời tròn đất vuông” là ý niệm cơ bản trong Dịch học.
Xét như thế ta khẳng định Dịch học không thể ra đời ở vùng Thiểm Tây – Sơn Tây, cái nôi của Hán tộc, vì đấy là vùng đất nằm sâu trong đất liền. Ở nơi mà chỉ có cát với cỏ thì làm sao có thể tưởng tượng ra cặp lưỡng nghi Đoài và Cấn?


Cặp hình tượng “sấm sétgió bão” chỉ ra rằng cộng đồng người đã sản sinh ra Dịch học sống ở nơi mà mưa bão, sấm sét là chu kỳ lặp đi lp lại hàng năm.

2 “thiên tượng” này phải là một nếp hằn sâu đậm trong đầu óc người cổ thì nó mới có thể được cấp cho “tính đại biểu” của phần không gian hẹp trên đầu con người, tức là 1 lưỡng nghi của Dịch học. Sấm và bão ngoài sự hoành tráng vốn có nó còn là sống còn của cư dân nông nghiệp sau này vì sấm luôn kèm với mưa, mà mưa là yếu tố quyết định của canh tác lúa nước. Người Việt đã tổng kết “nước – phân – cần – giống” đủ biết mưa quan trọng như thế nào trong đời sống. Mưa bão sấm sét là một sự liên hoàn luôn đi với nhau nên thành 1 lưỡng nghi của Dịch học: Chấn và Tốn.
Lại thêm một khẳng định: quê hương của Dịch học không thể ở ngoài vùng “Châu Á gió mùa” vì chỉ ở vùng này Chấn và Tốn mới có tính chu kỳ và ảnh hưởng sâu sắc trên cuộc sống con người. Sơn Tây – Thiểm Tây, cái nôi của Hán tộc, rất ít mưa và hầu như không có sấm sét là hiện tượng sinh đôi của mưa bão, thử hỏi làm sao có thể tưởng tượng ra Chấn với Tốn?
Tổng kết thông tin trong bài viết này ta có: Dịch học đã ra đời ở Việt Nam. Cụ thể hơn là ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, nơi mà phía Đông là biển, phía Tây là núi. Nơi mà hằng năm gánh không biết bao nhiêu là bão gió – sấm sét. Nơi mà bên Đông có rồng, bên Tây có tịnh, hướng Bắc (hướng của Dịch lý, tức hướng Xích đạo) có hổ và hướng Nam (xưa) có đầy thuồng luồng như đã chép trong truyền thuyết và trên trời nhiều hạc, mặt đất đầy hươu nai.
Riêng về loài nai thống kê khảo cổ học cho biết ở đất Việt cách nay vài ngàn năm hươu nai là loài thú săn chiếm tới trên 50% trong tổng số thú bắt được. Cá biệt có nơi xương hươu nai chiếm tới trên 75%. Vì điều này chúng ta hiểu được tại sao Dịch học nút số dùng số 6 là lục hay lộc, tức con nai, tượng trưng cho mặt đất nơi mình sinh sống. Ở Thiểm Tây – Sơn Tây có nai hay lộc nhiều như thế hay không?
Tớí đây ta có thể tạm kết về Dịch học hình tượng. Dịch học hình tượng là một hệ thống gồm:



  • 8 hình tượng tự nhiên: Trời – đất, mặt trời – mặt trăng, biển cả – đất liền và sấm sét – gió bão.
  • 6 chữ nguyên hình (điểu thú văn): Hạc – lộc – hổ – sấu – long – tịnh.


Và các hình tượng đặc biệt:


  • Mặt trời: là nguồn sáng, cũng là nguồn sống được coi như biểu tượng của đấng tối cao và được nhân cách hóa thành ông trời.
  • Con người: là trung tâm của vũ trụ nơi xuất phát mọi giá trị.
  • Biểu tượng bộ phận sinh dục nam, người Viêt gọi là “nõn” hay “lõ”, người Chăm gọi là “Linhga”.
  • Biểu tượng bộ phận sinh dục nữ, gọi là “nường” hay “lường”, người Chăm gọi là “Yoni”.


Linhga và Yoni chính là biểu tượng xưa nhất của Âm và Dương, được coi như một biểu tượng tôn giáo trong các nền văn hoá Chăm và Khơme cổ. Người Việt xưa vẫn có tục rước “nõn- nường”. Sử sách Trung Hoa chép: Chu Công đã cấm tục thờ sinh thực khí, tức “nõn-nường” trong ngôn ngữ Việt hiện nay. Linhga và yoni đã được xác định chính là Âm và Dương trong 2 danh từ “âm hộ” và “dương vật”, tức bộ phận sinh dục nữ và nam.
Như vậy qua bài viết này ta thấy Dịch học hình tượng là khởi nguyên của Dịch học, nền Dịch học ra đời từ khi con người còn chưa biết đến chữ, dù là loại chữ “kết thằng” cổ xưa, và nó đã đồng hành cùng con người cả trăm ngàn năm. Cùng với tiếng nói hay “điều – tiếng”, Dịch học tự nhiên đã trở thành cái nền của tư duy, khám phá, ứng dụng và truyền thông. Dịch học hình tượng là căn đế của một nền văn minh vô cùng rực rỡ nhưng đang tạm thời bị vùi lấp và cũng đang dần toả sáng./.

    Hôm nay: 15/12/2018, 2:22 pm