Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


October 2018

MonTueWedThuFriSatSun
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031    

Calendar Calendar

Khách thăm







Những bảo vật Đại Việt và Đại Hưng

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 834
Join date : 31/01/2008

Những bảo vật Đại Việt và Đại Hưng

Bài gửi by Admin on 17/3/2018, 9:27 am

Bách Việt trùng cửu – nguồn http://asakicorp.com/bachviet18/?p=2956

Tiền đồng đầu tiên của nước ta hiện nay đang được cho là đồng tiền Thái Bình hưng bảo với chữ Đinh ở mặt sau vì nó tương ứng với niên hiệu Thái Bình của vua Đinh Tiên Hoàng theo sử sách. Tuy nhiên, trên tất cả các đồng tiền được biết hiện nay chữ đầu tiên không phải chữ Thái 太, mà là chữ Đại 大. Điều này làm cho giới chuyên môn xác định tên đồng tiền này phải đọc là Đại bình hưng bảo. Rắc rối ở chỗ như vậy tên đồng tiền lại không tương ứng với bất kỳ niên hiệu nào của ta cũng như của Trung Quốc.
Lạ hơn nữa còn có đồng tiền với các chữ ghi rõ ràng là Đại Việt thông bảo 大越通寶 đã được tìm thấy ở nước ta. Theo TS. Phạm Quốc Quân, nguyên giám đốc Bảo tàng lịch sử Việt Nam, thì đồng tiền Đại Việt thông bảo được nhà sưu tầm Nguyễn Đình Sử thu thập ở khu vực huyện Yên Mô của tỉnh Ninh Bình từ năm 2006. Đồng tiền này từng được triển lãm trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long tại Bảo tàng Hà Nội.
Đồng Đại Việt thông bảo có đường kính 24,9 mm, đường kính lỗ là 6,1 mm, độ dày 1,3 mm, trọng lượng 3,5 g. Giám định lớp patin trên tiền xác nhận đây là tiền cổ thật sự. Kích thước lỗ rộng và dạng thư pháp của chữ cho nhận định rằng đây là tiền có niên đại tương đương với đồng Đại bình hưng bảo (Phạm Quốc Quân, Tạp chí Khảo cổ học 5-2007).
Vấn đề làm các tác giả lúng túng là ở thời kỳ nhà Đinh thì làm gì có quốc danh Đại Việt vì mãi tới Lý Thánh Tông, vị vua thứ ba của nhà Lý, sau khi lên ngôi mới đặt tên nước là Đại Việt. Vì thế có ý kiến cho rằng đây là tiền Đại Định thông bảo đã được “sửa” chữ Định 定 thành chữ Việt 越. Ý kiến này khó có thể chấp nhận được vì hai chữ này rất khác nhau và như nêu trên đồng Đại Việt thông bảo có kích thước và thư pháp khác. Đồng thời đồng tiền này không chỉ thấy ở Việt Nam mà trong một số bộ sưu tầm của Trung Quốc và Nhật Bản cũng có loại tiền Đại Việt thông bảo này.




Tiền Đại Việt thông bảo ở nước ngoài.

TS. Phạm Quốc Quân cho rằng đồng Đại Việt thông bảo là tiền của nhà Đinh, dùng từ khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất 12 sứ quân năm 968 cho tới khi lấy niên hiệu Thái Bình năm 970 thì chuyển sang tiền Đại bình hưng bảo. Và rằng quốc hiệu của nhà Đinh là Đại Việt, thay cho Đại Cồ Việt như sử sách vẫn chép.
Như vậy, những cách giải thích hiện nay cho 2 đồng tiền cổ này đều chưa thỏa đáng. Một là không có niên hiệu, tên gọi Đại Bình nào ở thời Đinh cả. Hai là tên nước của vua Đinh không phải là Đại Việt, vì sau đó đến đời Lý tên này mới được đặt. Vậy phải hiểu những tên gọi trên hiện vật khảo cổ của thời kỳ này như thế nào?
Khi nhìn rộng ra hơn phạm vi nước “Đại Việt” ngoài miền Bắc Việt ngày nay thì thấy rõ: Đại Việt là quốc hiệu của nước do Lưu Cung thành lập, đô đóng ở Quảng Châu. Đồng tiền Đại Việt thông bảo là tiền của thời Lưu Cung khi mới lập quốc năm 917 cho tới khi đổi tên nước.
Lý do dùng quốc hiệu chứ không phải niên hiệu vua trên đồng tiền của thời kỳ này cũng dễ hiểu. Khi nhà Đường suy yếu, các khu vực trong Trung Hoa tự tách ra lập thành các quốc gia riêng. Thời kỳ này còn gọi là thời Hoa Nam thập quốc. Với cả chục quốc gia cùng chung văn tự, văn hóa nằm cạnh nhau như vậy rõ ràng dùng quốc hiệu để đặt tên tiền sẽ giúp phân biệt được tiền giữa nước này với nước kia. Nước Đại Việt của Lưu Cung không phải là ví dụ duy nhất dùng quốc hiệu cho tiền của mình. Thời kỳ này còn có đồng tiền Đường Quốc thông bảo của nước Nam Đường có cách đặt tên tương tự.




Mảnh gạch Đại Việt… tìm thấy ở động Thiên Tôn, Ninh Bình.

Tên gọi Đại Việt còn được dùng trên các viên gạch để xây thành thời kỳ này ở miền Bắc Việt. Những viên gạch với dòng chữ Đại Việt quốc quân thành chuyên大越國軍城塼 tìm thấy ở  Hoa Lư, Hoàng thành Thăng Long và một số nơi khác là bằng chứng về sự hiện diện của Lưu Cung trên vùng đất Bắc Việt. Thành Hoa Lư chính là được xây dựng dưới thời Lưu Cung như một trị sở ở Bắc Việt.
Phát hiện những viên gạch xây thành Hoa Lư mang tên Đại Việt quốc quân thành chuyên và đồng tiền Đại Việt thông bảo ở Ninh Bình cho thấy Lưu Cung đã có khá nhiều thời gian để đúc tiền và xây thành trên đất Bắc Việt. Vì thế sự kiện Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng buộc phải xem xét lại…




Tiền Đại Hưng bình bảo có chữ Đinh ở mặt sau.

Việc nhìn nhận tên nước Đại Việt trên đồng tiền cũng dẫn đến khả năng giải nghĩa cho đồng Đại bình hưng bảo. Đồng tiền này theo cách đọc thuận chiều kim đồng hồ sẽ là Đại Hưng bình bảo. Đại Hưng chính là tên nước mà Lưu Cung đã đổi sang từ tên Đại Việt. Sử Tàu biến hóa thành nước Đại Hán rồi Nam Hán, trong khi Lưu Cung lập nước gọi là Việt rõ ràng từ quốc danh Đại Việt đầu tiên.
Như thế tiếp theo đồng tiền Đại Việt thông bảo với của triều đại Lưu Cung là tiền Đại Hưng bình bảo. Đồng tiền này có thể có chữ Đinh ở mặt sau hoặc không. Chữ Đinh ở đây không phải là họ vua mà là từ để chỉ khu vực phía Tây hay Tĩnh Hải quân thời kỳ này. Đinh, Tĩnh đều là tính chất của phương Tây trong Dịch học.
Nhiều khả năng ở khu vực phía Tây nước Đại Hưng có trị sở ở Hoa Lư thì tiền Đại Hưng bình bảo có chữ Đinh được sử dụng phổ biến. Còn ở phía Đông nước này (tức là vùng Thanh Hải quân ở Quảng Đông) bắt đầu dùng niên hiệu vua trên đồng tiền. Ví dụ như gặp đồng Càn Hanh trọng bảo 乹亨重寳 với niên hiệu Càn Hanh của Lưu Cung.




Đồng tiền Càn Hanh trọng bảo.

Hai đồng tiền cổ và viên gạch của Đại Việt – Đại Hưng triều đại từ Lưu Cung lại hiện hữu ở kinh đô Hoa Lư. Vậy mối quan hệ giữa nước Đại Việt này với nước “Đại Cồ Việt” của nhà Đinh là như thế nào? Nhà Đinh dùng tiền gì và xây thành bằng gạch gì? Sao lại không thấy hiện vật của nhà Đinh ở chính kinh đô của mình? Lịch sử giai đoạn này quả đang còn rất nhiều bí ẩn chưa được làm sáng tỏ.
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 834
Join date : 31/01/2008

Re: Những bảo vật Đại Việt và Đại Hưng

Bài gửi by Admin on 17/3/2018, 5:59 pm

Văn Nhân góp ý

Lịch sử nước Đại Việt – Nam Hán đô ở thành Phiên Ngu theo sử hiện nay có 2 điểm đáng lưu ý :
Người đặt nền móng là Lưu Ẩn và người tuyên bố lập quốc là Lưu Cung
Kinh thành nước Đại Việt được xây dựng và mở rộng trên nền của Hưng vương phủ .
Lưu Ẩn và Lưu Cung là con của Lưu tri Khiêm người Phong châu .
Theo phép phiên thiết : Lưu tri thiết li – lê , Lưu tri Khiêm thực ra là Lê Khiêm người Tàu đã cố ý thay Lê bằng phiên thiết Lưu Tri nhằm bẻ cong lịch sử Đại Việt .
Cha là Lê Khiêm thì con không thể là Lưu Ẩn và Lưu Cung (cùng họ với ông tổ Hán quốc là Lưu Huyền – Lưu Tú) mà phải là Lê Ẩn – Lê Cung , Lê là họ vua chúa độc quyền của giống Việt , Vua Tàu không có họ này . Sử gia Tàu đã bẻ Lê thành Lưu để dễ bề …lừa biến nước Đại Hưng thành nước Nam Hán vì từ ngọn nguồn họ có 2 vua mang họ Lưu …lừng danh ; coi như là ông tổ khai sinh ra nước Hán : Lưu Huyền và Lưu Tú .
Lưu Huyền , Huyền là Đen , đen người Việt còn gọi là Mun , Lưu Huyền chẳng qua lả Lưu Mun …đọc trại đi là Lưu Manh …
Lưu Tú nói lái thành Lu Túi tức lu tối thế thôi , còn nếu dùng phép phiên thiết thì lưu tú thiết lú … thật là anh minh sáng suốt …
Kinh thành nước Đại Việt được kiến thiết trên cái nền Hưng vương phủ …tức phải có Hưng vương thì mới có Hưng vương phủ , không có dòng sử nào nói đến nhưng ta có thể nhận ra Hưng vương chính là Lê Ẩn chứ không thể là ai khác .
Sử viết vì Lưu Ẩn – Lưu Cung cùng quê hương đất Phong với Lưu Bang nhà Tây Hán nên đã cải quốc hiệu Đại Việt thành Hán quốc cho giống với tiền nhân … , giới viết sử gọi là Nam Hán để phân biệt với nước Bắc Hán ở Thiểm Tây .
Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ ra lịch sử chẳng có ai là Lưu Bang chỉ có Lí Bôn quê ở đất Phong tức Phong châu , Hùng phả gọi là đời Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang vì kinh đô ban đầu của ông đặt ở Nam Trịnh và kinh đô chính thức của ông còn gọi là thành Đại Hưng ngoài cái tên Trường An chép trong sách sử , thông tin về thành Đại Hưng bị rò rỉ khi Dương kiên dò công lao trùng tu lại kinh đô Tây Hán mà được mang tước hiệu Đại Hưng công .
Những thông tin Hưng đức lang – Đại Hưng thành và Hưng vương phủ đều dẫn đến nước Đại Hưng chẳng dính dáng gì đến Hán hung gì cả .
Thay vì chép sự thật …Lê Cung cải tên nước Đại Việt thành Đại Hưng thì cái lưỡi không sương biến ra .. Lưu Cung cải tên nước đại Việt thành nước Hán lừa người đời tập 2 sau tập 1 là Lưu Bang và nước Tây Hán …
Hỏi mãi tận Quảng Đông đất cận cực Nam của Bách Việt thì Hán chui ở đâu ra …
Xin trở lại bài trước cùng trong Web – Blog …
Nhà nghiên cứu sử Bách Việt 18 cho biết câu đối ở Đình Dương Lôi Tân Hồng – Bắc Ninh  như sau :
李核 出五蘝肇嗣和刀天 應瑞
Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự ‘hòa đao’ thiên ứng thụy
蓮花開八葉結成木子地鐘靈
Liên hoa khai bát diệp, kết thành ‘mộc tử’ địa chung linh.
Và Tạm dịch:
Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành
Hoa Sen mở tám lá, kết thành họ Lý ở đất linh thiêng.
“Hòa đao” 和刀 là chiết tự của họ Lê黎
“Mộc tử” 木子là chiết tự của họ Lý 李


Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý nhưng triều đại trước cái nền để nhà Lý ra đời không thể là nhà tiền Lê của Lê đại Hành vì có kể cả Lê long Việt làm vua 3 ngày thì nhà tiền Lê cũng chỉ có 3 đời vua lấy đâu ra …Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành.

Nếu Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý ở Thăng long thành thuộc Phong châu tức đất phía Tây thì 5 đời vua Lê ở vế trên phải  ứng với 4 đời vua Đại Việt – Đại Hưng cộng với vì chúa tạo dựng nhưng không xưng vương : Lê Ẩn ( phải chăng Hán sử đã biến họ Lê thành họ Lưu ?) ở Hưng vương phủ – Quảng châu kinh đô nước Đại Việt – Đại Hưng thời triều đình phía đông ?.
Đến đây có lẽ chẳng cần bàn thêm gì nữa .

    Hôm nay: 22/10/2018, 8:58 am