Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


August 2018

MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Calendar Calendar

Khách thăm







Tứ pháp và Thái Thượng Lão Quân ở Hà Nam

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 826
Join date : 31/01/2008

Tứ pháp và Thái Thượng Lão Quân ở Hà Nam

Bài gửi by Admin on 3/3/2018, 3:19 pm

Bách Việt trùng cửu – nguồn http://asakicorp.com/bachviet18/?p=2916


Chùa Bà Đanh nằm bên dòng sông Đáy cạnh hòn núi Ngọc là một thắng cảnh có tiếng của đất Hà Nam. Chùa còn có tên là Bảo Sơn tự, tương truyền rằng vào thế kỷ thứ VII, đây là một ngôi đền nhỏ thờ Tứ pháp, đến thời Lê chùa được xây dựng đàng hoàng và to đẹp hơn. Câu đối trong chùa ca ngợi cảnh đẹp và sự linh thiêng của ngôi chùa độc đáo này:
神界寂空水鏡山鬟層閣外
靈蹤彷彿竹響松濤半天来
Thần giới tịch không, thủy kính sơn hoàn tằng các ngoại
Linh tung phảng phất, trúc hưởng tùng đào bán thiên lai.
Dịch:
Cõi thần lặng không, núi bọc nước soi tầng gác trước
Dấu thiêng phảng phất, trúc reo thông vẫy nửa trời qua.




Chùa Bà Đanh – núi Ngọc.

Trong cung cấm của chùa ngoài một pho tượng Tứ pháp còn có tượng Phật Tam Thế cùng với Thái Thượng Lão quân và Nam Tào, Bắc Đẩu. Câu đối trong chùa nói về Tứ pháp:
榕化靈光儕四法
梅修品格遇三乘
Dong hóa linh quang sài tứ pháp
Mai tu phẩm cách ngộ tam thừa.
Dịch:
Cây dung hóa thiêng cùng Tứ pháp
Cốt mai tu phẩm rõ Tam thừa.
Câu đối này nói tới sự tích bà Man Nương thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu, theo thầy Khâu Đà La tu hành, sau đó sinh một đứa con gái, được thầy làm phép gửi vào trong một cây dung thụ bên sông. Về sau cây dung thụ được dùng để tạc tượng Tứ pháp, là các vị thần cầu mưa linh ứng ở khu vực này.
Tứ pháp gồm 4 vị nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Dân gian gọi là các Bà Dâu, Bà Dàn, Bà Đậu, Bà Nành, … tùy từng địa phương. Có nhiều ý kiến cho rằng các “bà” ở đây là ảnh hưởng tín ngưỡng thờ thần của người Chăm, do các tù binh Chăm thời Lý Trần Lê lập nên…
Mây Mưa Sấm Chớp thực ra là 4 tính chất của Đế Thích hay thần dông tố Indra, một vị thần tối cao của đạo Bà Là Môn. Có thể chữ “Bà” trong tên “Bà Đanh” ở đây chính là chỉ đạo Bà – La Môn. Chữ “Bà” này không phải là yếu tố ảnh hưởng của người Chăm từ Trung Bộ Việt như thường nghĩ. Khu vực Trung Bộ Việt vào đầu Công nguyên đang thuộc cai quản của Sĩ Nhiếp ở miền Bắc. Khâu Đà La, Sĩ Nhiếp thực chất là các tu sĩ của đạo Bà La Môn. Do đó, nếu đạo Bà La Môn phổ biến ở Giao Chỉ thì cũng phổ biến ở miền Trung. “Người Chăm” miền Trung như vậy chịu ảnh hưởng tín ngưỡng của người Việt ở miền Bắc trong trường hợp này.


Một chút bàn luận về nhân vật Sĩ Nhiếp trong sử Việt của tác giả Văn Nhân Nguyễn Quang Nhật: Sử hiện nay cho Sĩ Nhiếp có tên khác là Sĩ Tiếp. Suy nghĩ theo hướng khác thì Sĩ không phải là họ mà chỉ kẻ Sĩ hay người có học. Sĩ Tiếp là quan triều Lý Bôn (Lưu Bang) và Vương Mãn. Cuối thời Vương Mãn bọn Lục Lâm thảo khấu nổi loạn chiếm kinh đô Tràng An, giết vua Vương Mãn. Không còn vua và triều đình trung ương, khắp nơi các quan đầu mục nổi lên xưng tướng, xưng vương. Riêng Sĩ Tiếp chỉ đóng cửa giữ thành, bảo an dân chúng… Phải chăng chính vì thế mà sử gọi là Sĩ Tiếp? Chữ “tiếp” là tiếp tục – tiếp nối…
Thời Hai Bà Trưng sử hiện nay bỏ qua hẳn chi tiết Mã Viện sau khi diệt Đô Dương bộ tướng của Trưng Vương thì nghị hoà… 2 nước Hán – Trưng nhà ai nấy ở. Biên giới được đánh dấu bằng cột đồng ở động Cổ Sâm – Khâm Châu, nay thuộc Quảng Tây. Tư liệu viết trên cột đồng khắc câu … trụ đồng gãy thì Giao Chỉ… tiêu đời… tức rất rõ ràng lúc cắm cột đồng phân ranh thì Giao Chỉ còn nguyên…
Do bỏ hẳn đoạn sử này nên sử cả ta và Tàu quên luôn không nói gì đến “nước” và bộ máy lãnh đạo quốc gia trên đất Giao Chỉ thời hậu Trưng này.
Sử thuyết Hùng Việt cho rằng thủ lãnh nước hậu Trưng chính là Sĩ Nhiếp – Ngạn Uy được chép trong sử.
Sĩ Nhiếp tức kẻ sĩ nhiếp quyền, đặt kinh đô nước hậu Trưng ở Luy Lâu, sau theo về với Tôn Quyền. Luy Lâu trở thành thủ phủ của Giao Châu như chép trong sử.
Quan điểm của Sử thuyết Hùng Việt là: lịch sử Thiên hạ không có thời Tam quốc, chỉ có thời Lưỡng quốc kháng Ngụy. 2 nước Thục và Ngô của người Trung Hoa vừa đánh lẫn nhau vì thù trong, vừa cùng nhau chống lại nước Ngụy của Hán tộc, tức giặc ngoài.
Gần đây việc khai quật thành Luy Lâu lần 2 đã phát hiện tới 900 mảnh khuôn đúc trống đồng với đủ loại hoa văn đặc trưng của trống đồng Đông Sơn. Niên đại của lò đúc trống đồng này ước định quãng thế kỷ 3-4.
Luy Lâu, thủ phủ Giao Châu thời Sĩ Nhiếp là đất của người Việt, nên ở đấy đúc trống đồng theo tục Việt là hoàn toàn hợp lẽ. Còn theo sử hiện nay đấy là thời Hán thuộc thì sự việc Luy Lâu đúc trống cũng giống như nước Hồi giáo chế mõ tụng kinh Phật vậy… Làm gì có việc như thế.




Bộ vì kèo ở chùa Bà Đanh.

Đôi câu đối ở khu tiền tế bên ngoài chùa Bà Đanh:
地湧寒江傳妙決
天移蓬島在人間
Địa dũng hàn giang truyền diệu quyết
Thiên di bồng đảo tại nhân gian.
Dịch:
Đất phun sông mát truyền phép lạ
Trời chuyển đảo bồng chốn nhân gian.
Câu đầu chỉ phép màu của Tứ pháp tạo nguồn nước cứu hạn cho nhân dân. Vế đối sau ca ngợi cảnh đẹp ở đây như chốn Bồng Lai tiên cảnh. Có thể câu này ứng với tục thờ Thái Thượng Lão Quân trong chùa, là một nơi tiên tích của đạo Giáo.




Chính điện Bảo Sơn tự.

Câu đối ở gian giữa chùa Bà Đanh:
化鼓两間司橐籥
功高四法凜靈聲
Hóa cổ lưỡng gian tư thác thược
Công cao tứ pháp lẫm linh thanh.

Vế đối sau thì ý tứ khá rõ ràng, công của Tứ pháp to lớn, vang vọng mãi tiếng thiêng. Còn vế đối đầu tương đối khó hiểu. Vế này sử dụng từ ngữ trong Đạo Đức Kinh, chương 5 – Thiên Thượng:
Thiên địa chi gian, kì do thác thược hồ
Tạm dịch là Trời đất là không gian, giống như cái ống bễ vậy.
“Hóa cổ” là cái trống Tạo hóa. Cả vế này “Hóa cổ lưỡng gian tư thạc thược” hiểu nôm na là: Trống Hóa Công có 2 gian (Trời và Đất) thì (ngài) cai quản cái ống bễ nối chúng.
Đối tượng được nói đến ở đây là người cai quản sự liên thông giữa trời và đất chính là Thái Thượng Lão Quân. Vế đối này như vậy ca ngợi vai trò, quyền lực của Thái Thượng Lão Quân.
Câu đối trên là dẫn chứng một cách rõ ràng rằng chùa Bà Đanh thờ Thái Thượng Lão Quân như một đối tượng thờ chính, sánh ngang cùng với Tứ pháp, chứ không phải phối thờ.
Chùa Ba Đanh như vậy thờ tới 3 tôn giáo:



  • Tứ pháp là đạo Bà La Môn.
  • Đạo Phật, và
  • Đạo Lão.


Đây không phải mô hình Tam giáo đồng lưu thông thường vì không có yếu tố “Nho giáo” trong chùa này. Chắc chắn tục thờ cúng này có nguồn gốc, có lịch sử hình thành riêng của nó. Tại sao Thái Thượng Lão Quân lại được thờ cùng Tứ pháp ở chùa Bà Đanh?
Thần tích vùng Phủ Lý, Hà Nam giải đáp câu hỏi này. Theo thần tích của xã Phù Đạm thì Thái Thượng Lão Quân, hiệu là Lý Bá Hoành, tự là Lão Đam, húy là Thái Ông. Ngài giáng sinh đầu thai ở thôn Kim Chân, xã Thúc Lực…
Ngài vốn tính thông minh, thông hiểu thiên văn địa lý. Ngài đem đạo phù thủy truyền bá cho nhân dân. Ngài đến xã Phù Khê (tức Phù Đạm) thấy nhân dân trong xã bị dịch chết quá nửa. Ngài bèn đóng giả một cụ già viết 1 đạo bùa thổi vào trong xã, bao nhiêu người bị bệnh trong xã đều khỏi…




Đình Phù Vân ở Phủ Lý.

Thôn Phù Vân của xã Phù Đạm xưa nay thuộc thành phố Phủ Lý. Đình Phù Vân vẫn còn lưu giữ được tục thờ Thái Thượng Lão Quân ở đây. Theo thần tích trên Thái Thượng Lão Quân chính là Lão Tử, vị tổ sư của Đạo Giáo. Lão Tử giáng sinh ở ngay khu vực Hà Nam của nước ta, từng chữa dịch bệnh cho nhân dân trong vùng. Đó là lý do tại sao khu vực Hà Nam lại thờ Thái Thượng Lão Quân như ở chùa Bà Đanh. Các di tích và truyền tích ở Hà Nam là minh chứng về quê hương bản quán của Lão Tử ở Việt Nam, ngay trên đất Hà Nam.
Câu đối khác ở chùa Bà Đanh:
一息蓬蓬八表遊行天地使
層臺屹屹萬家欹頌海山僊
Nhất tức bồng bồng, bát biểu du hành thiên địa sử
Tằng đài ngật ngật, vạn gia y tụng hải sơn tiên.
Dịch:
Một quãng bồng bồng, tám phương du hành khiển trời đất
Hai tầng ngân ngất, vạn nhà khen tụng thần núi sông.

Văn Nhân thêm ý :
Lão tử ông tổ nhà Đường có tên là Lí Nhĩ hiệu là Lão Đam ....người huyện Khổ nước Sở làm quan ‘quản thủ thư viện’ ở kinh đô nhà Châu .
 Đức Khổng tử tên là Trọng Ni thực ra không có ai tên như thế , theo tác giả Đỗ Thành thì theo phép phiên thiết : trọng ni thiết tri chỉ bậc trí gỉa học cao hiểu rộng không phải tên tuổi gì cả .
Tương tự Lí Nhĩ thiết Lỉ - lửa chỉ người sáng suốt vô cùng không phải là nhân vật  họ Lí tên Nhĩ .
Việc Lão tử sinh ở Giao chỉ là rất có thể :
Trong tư liệu cổ Trung hoa do vấn đề chữ với nghĩa , đọc và chép đưa đến  khá nhiều rắc rối phức tạp như  :
Từ Chiêu chỉ phía mặt trời lặn tức phía Tây , chiêu > châu cũng là sáng , triều đại mà đất chính nằm ở phía Tây Thiên hạ lịch sử gọi là triều Châu - Chu . Nước ở về  phía Tây gọi là nước Chiêu - Châu .
Triệu - chiếu là kí âm của từ chậu trong ngôn ngữ Thái - Lào , tiếng Việt là chủ - chúa , Triệu cũng thành ra 1 họ .
 Triệu với nghĩa là chủ - chúa thì không thể có nước nào tên là nước Triệu nhưng thời Xuân thu chiến quốc lại có nước Triệu tách ra từ nước Tấn .
Đã có sự Lầm lẫn hoặc cũng có thể là cố ý tráo đổi giữa Chiêu và Triệu  để tạo nhiễu thông tin lịch sử  . Sử thuyết Hùng Việt cho là Trọng Thủy lấy công chúa và sống ở kinh đô nhà Chiêu - Châu không phải làm  con tin ở nước Triệu và ôm ‘của thừa’ của Lã bất Vi như sử hiện hành viết . Sau vụ án lừa vợ thì trong dân gian Việt có từ Sở khanh chỉ Doanh tử Sở tức Trọng Thủy thứ thiệt bố đẻ của Doanh Chính - Tần thủy hoàng  .
Trường hợp khác mà chữ - nghĩa dễ gây lầm lẫn nữa là tên  nước Sở và đất Lạc - dòng Lạc Việt .
Sở là biến âm của Sủy cũng đọc là Thủy nghĩa là nước (vật chất) , lịch sử không dùng từ Thủy với nghĩa là nước - vật chất mà là chỉ phương Nam - hướng Nam - phía Nam  .
Lạc cũng là biến âm của nác - nước cũng chỉ phương Nam theo Dịch học nên rất có thể đã có sự lẫn lộn ; chuyện diễn ra  ở đất Lạc thì đem chép thành nước Sở .
vụ lẫn lớn nhất giữa Sở và Lạc là vị trí đầm Vân đầm Mộng và Động đình hồ ; người Tàu dẫn kinh Thư cho Đầm Vân đầm Mộng thường ghép chung gọi là đầm Vân Mộng nước thông với Động đình hồ thuộc châu Kinh , sau là đất Sở nay là Hồ Nam nhưng Sử thuyết Hùng Việt cho đầm Vân Mộng và Động đình hồ nằm trên đất của tộc Kinh tức đất Lạc xưa , chẳng có cái đầm nào tên là Vân Mộng , phép phiên thiết cho Vân mồng thiết vồng , âm Nam bộ đọc là giồng , giồng trong tiếng Việt Nam ḅ̀ộ chỉ giải đất đang ngoi lên khỏi mặt nước , trong Kinh Thư hơn 2000 năm trước từ ‘giồng’  chỉ đồng bằng Bắc bộ đang trong qúa trình kiến tạo và Động đình hồ nay chính là vịnh Bắc bộ . Bằng cớ ... kinh Thư viết đầm Vân đã phơi đất và đầm Mộng đã cày cấy được
tức Vân Mồng đã trở thành cánh đồng trồng lúa làm gì còn đầm với đìa nào vậy mà đến nay hơn 2000 năm sau Vân Mộng trên đất Sở vẫn  đầy nước ... vẫn được gọi là ....đầm, điều gian dối lâu nay đã bị vạch trần .

Theo nhận định của người viết bài này thì rất có thể dòng họ Lí xuất phát từ đất Giao chỉ . Ở Việt Nam còn giữ được cái gương bằng đồng có khắc dòng chữ ...Lí thị tác tức gương  do họ Lí làm ra cả ngàn năm trước công nguyên . Kiệt vua sau cùng  nhà Hạ khoảng 1589-1559 TCN cũng có tên là Lí Qúy .
Lí là từ được tạo ra từ gốc là Quẻ Li tượng của  lửa và Mặt trời , bước vào thời vương quốc thì từ Li - lửa dùng chỉ vua ,ban đầu  Lí Qúy chỉ nghĩa là vì vua tên là Qúy  sau Li biến ra hoàng tộc Lí rồi sau nữa biến hóa  tạo thêm ra dòng họ Lê của vua gốc Âu - Ai lao Di  , tương tự như thế Chậu ban đầu chỉ nghĩa là chủ - chúa sau biến ra họ Triệu ,  nên biết tới tận ngày nay Lí và Triệu vẫn là  2 dòng họ danh gía nhất ở Trung hoa .
Qua vài hàng nhận định , Xét 2 từ Sở và Lạc như trên  thì sự nhìn nhận  của tác gỉa bài viết  ...Lão tử - Lí Nhĩ - Thái thượng Lão quân  là người Giao chỉ là điều hoàn toàn có thể  .


    Hôm nay: 15/8/2018, 9:46 pm