Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


October 2018

MonTueWedThuFriSatSun
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031    

Calendar Calendar

Khách thăm







Cuộc chiến chữ nghĩa .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 834
Join date : 31/01/2008

Cuộc chiến chữ nghĩa .

Bài gửi by Admin on 25/2/2018, 1:37 pm

Cuộc chính biến Tân hợi năm 1911 đã cho ra đời nước Trung hoa ngày nay .
Trong bài trước tôi (người viết) đã nói đặt quốc hiệu Trung hoa lúc này là không chính danh vì khẩu hiệu của Hưng Trung hội tổ chức lãnh đạo chính biến là …đánh đuổi giặc Thát ,  khôi phục Trung hoa …, xét cho kĩ đã đánh đuổi được Mãn thanh đâu mà khôi phục Trung hoa , còn Đồng minh hội tổ chức thay thế Hưng trung hội với khẩu hiệu là :  lật đổ vương triều nhà Thanh, kiến lập chính thể cộng hoà ...; nếu không đánh đuổi giặc Thát , chỉ đánh đổ phong kiến Mãn Thanh thôi thì chỉ có thể thành lập Cộng hoà Mãn Thanh làm gì có việc khôi phục Trung hoa , tất cả chỉ như thay áo đâu có thay da đổi thịt gì ,thực ra cuộc chính biến chỉ giải thoát thân phận nô lệ cho người Hoa – Hán hóa chứ chưa hề khôi phục danh phận người Trung hoa nơi họ , bằng cớ đã nêu nhiều nhưng rõ nhất là Trung quốc vẫn coi triều Mãn Thanh của rợ Đông Hồ là triều đại chính thống của nước họ vẫn nhận quê cha đất tổ là bở Bắc Hoàng hà và tổ tiên họ là người chủng Mongoloid .
Xét 1 cách bình thường cũng thấy ngay …Làm gì có chuyện Trung hoa tiếp nối quốc thống của rợ Hồ ?.
Lịch sử Trung hoa thực đúng là trận chiến chữ nghĩa , nếu không đặt lại vấn đề từ đầu hiểu cho đúng những từ cơ bản thì mãi chắc cũng chẳng thể biết Trung hoa là ai . Lịch sử ra sao ?.
Xin bắt đầu với 2 từ Quan và Hán .
Quan thoại có người dịch là ‘Bắc phương thoại’ , người khác cho ‘quan thoại’ nghĩa là ‘tiếng nhà quan’.
Theo sử thuyết Hùng Việt từ ‘quan’ chỉ là chuyển ngữ của ‘nom – nhìn’ ; nếu tay chiêu (trái) đặt vào bên Chiêu phía mặt trời lặn rõ ra là phía Tây và tay Mặt đặt ở bên Mục phía mặt trời Mọc tức hành Mộc phía Đông thì hướng mắt nhìn gọi là hướng hay phía ‘Nom’, nom – nhìn biến âm ra Nam hướng Nam , như vậy hướng Nam hay phương Nam xưa là Quan phương nay đã lộn ngược gọi là Bắc .
Theo lễ chế Trung hoa Quan – Nom cũng là hướng vua luôn nhì̀n về để nghe quần thần tấu trình như vậy bản thân vua phải ngồi ở hướng đôí diện tức hướng Bắc hướng vua là mặt trời luôn phải ở phía Xích đạo màu Đỏ ngược lại là hướng thần dân màu Đen nên Việt ngữ có từ kép dân Đen – dân thường . Trung quốc và Việt nam nằm gọn ở Bắc bán cầu ngày nay …, xét ra thì Bắc Nam đã bị lộn ngược , hướng màu Đỏ Xích đạo và màu Đen đối diện vẫn giữ nguyên như xưa nhưng bây giờ thì vua ngồi ở hướng Nam và ‘nom’ về hướng Bắc thế mới ngược đời…
Thời nhà Thương Ân Trung hoa có 4 thuộc quốc là các nước : Quang Từ Thao Chu, sử viết vậy thực ra chẳng có nước nào quốc danh như thế , Quang chính xác là Quan nghĩa là nước ở phía Nom – Nam xưa (quan là nom nhìn), Từ là từ dịch của từ Thương yêu của Việt ngữ , thanh – thương màu xanh chỉ phía Đông , tương tự Chu – Châu Chiêu chỉ hướng Tây mặt trời lặn sau cùng Thao cũng là thiêu nghĩa là đốt cháy chỉ phía Xích đạo nóng bức . Quan Từ Thao Chu chỉ nghĩa là 4 nước ở 4 phía của Trung hoa mà thôi .
Hán Quang vũ đế – Lưu Tú vua Đông Hán không phải tên là Quang vũ mà là quan vũ nghĩa là vua phía Nom – Nam , vũ là kí âm của vua tiếng Việt . Đông Hán của Quan vũ khi lập quốc hay dựng triều là vùng Sơn Tây – Hà Bắc ngày nay , chính tên Quan vũ đã giúp xác định Đông Hán là hậu thân của nước Quan thời Thương Ân và là tiền quốc của nước Liêu về sau (Lưu – Liêu là 1), người Trung hoa bị trị gọi họ là đám ‘quan – liêu’ tức bọn cầm đầu cầm cổ thiên hạ , cũng chính vì lẽ này sau Quan trở thành ông quan , Liêu thành kẻ phụ giúp quan và Quan thoại thành ra tiếng nói nhà quan .
Nước Thương phía Đông chuyển ngữ thành nước Từ sau thành nước Tề thời Chiến quốc rồi thành nước Tào – Ngụy của Tào Tháo thời Tam quốc . Tên gọi người Tàu phổ biến ngày nay là do chữ Tề – Tào này mà ra .
Có nhà nghiên cứu thắc mắc Hoa Nam làm gì có người Hán mà sao lại có Hán ngữ cổ …, nói như thế không sai nhưng không rõ , nói là tiếng Trung hoa cổ thì rõ nghĩa hơn .
Đây là vấn đề hết sức lớn của lịch sử Trung hoa cần làm rõ ;
Xét đoạn sử ngắn :
Lưu Bang tư liệu thường chép là Lưu Uyên hậu duệ của thiền vu Hung nô lừng danh là Mao Dun , năm 309 Đại Thiền vu Lưu Bang (Lưu Uyên) chán đánh thuê cho các vương nhà Tấn thời loạn Bát vương . ông thuyết phục các tộc trưởng cầm đầu các đoàn trại du mục Hung nô rằng ông cũng có thể đọc được Tứ thư – Ngũ kinh sao lại không thể làm hoàng đế như các vua Trung hoa , được ủnh hộ Lưu Uyên tự xưng là Hán vương lập ra nước Hán ở Bắc Sơn Tây – Thiểm Tây ngày nay.
Cuộc đụng độ giữa Lưu Bang – Lí Bôn và Thiền vu Mao dun là cuộc đụng độ giữa 2 tộc người , đụng độ giữa 2 nền văn hóa không có hồi Kết , có thể nói là 2 kẻ thù không đội trời chung vì thế nếu con cháu Mao Dun là Hán thì con cháu Lưu Bang – Lí Bôn không thể nào cũng là Hán .
Trong lời thuyết phục đám thủ lãnh du mục của Lưu Uyên chứa 2 thông tin quan trọng :
– Hán không phải là Trung hoa mà là Hung nô
– Tứ thư Ngũ kinh và thứ chữ viết nên những sách đó không phải của giống Hán .
Thực ra Lịch sử Trung hoa lập lờ hiện nay có 2 từ Hán gốc gác khác hẳn nhau chỉ 2 cộng đồng người khác nhau thậm chí là đối địch nhau nhiều ngàn năm qua đã bị người ta cố ý trộn lộn để gây nhiễu thông tin tráo đổi lịch sử thực của Trung Hoa .


* Hán có gốc từ̀ Khan – Hãn là từ người Mongoloid gọi thủ lãnh , hãn là chúa , nước của Hãn là Hãn quốc , quân của Hãn là Hãn quân sau hãn biến ra Hán trở thành danh từ riêng . Từ Hán này chỉ đám con cháu của các Thiều vu – Đại Hãn người Mongoloid vùng Bắc Hoàng hả , họ chính là kẻ đã đánh chiếm cướp nước và Hán hóa dân Trung hoa , chiếm đoạt vốn văn hóa và thành tựu khoa học Trung hoa cổ và đặc biệt là trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người là …chiếm đoạt luôn tổ tiên Tam hoàng Ngũ đế của người Trung hoa .

* Hán tạo ra từ cặp đôi ‘Hán – Sở’ thời nội chiến hậu Tần .
Hán – Sở chỉ là từ ‘đểu’ của đám nói ngọng thực ra là cặp từ lưỡng lập trong ngôn ngữ Âm – Dương Dịch học :
Hán – Sở biến âm của :
Hên – Sui
Hơn – Thua
Hưng – Suy
là cặp từ dân gian gọi 2 phe trong cuộc chiến sống mái hậu Tần . Lí Bôn – Lưu Bang thắng nên thành Hên – Hơn – Hưng vương , Hạng vũ thua nên thành Sui – thua – Suy vương .
Từ sự việc Hán – Sở thực ra là Hưng – Suy chỉ kẻ thắng người bại trong 1 cuộc chiến người ta đã bẻ quẹo bẻ cong từ Hưng tạo ra cả 1 giống người 1 quốc gia 1 nền văn minh gọi là Hán nhập nhèm với Hãn cứ như Hoa – Hán là 1 vậy .
Người ‘Hán’ khiến thế giới nể mặt ở cổ – trung đại là người Hán – Hưng con cháu của Tam hoàng – Ngũ đế là người Hưng – Hơn – Hên không dính gì đến Hãn – Khan – Khả hãn .
Sử thuyết Hùng Việt cho Lí Bôn tức ông Lang Ba – Lang Bang của sử Việt đã bị đám viết sử người Hán biến thành Lưu Bang – Lưu Qúi (qúi là con thứ 3).
Kinh đô đầu của triều Lí Bôn – Lưu Bang là Nam Trịnh nên Hùng phả gọi ông là Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang , cả Đức và lang đều nghĩa là chúa – vương đây là kiểu sai thường thấy nơi người Việt như núi Thái sơn , sông Hương giang , sông Hồng hà .v.v..
Trước khi kiến lập nhà Tùy Dương Kiên đã xây dựng lại kinh đô của Lí Bôn – Lưu Bang và gọi tên là Đại Hưng thành , do đó mà Dương Kiên có tước Hiệu là Đại Hưng công trước khi được gọi là Tùy quốc công . Kinh đô Đại Hưng là bổ chứng nặng kí xác nhận Lí Bôn là Hưng vương như đã chép trong Hùng phả , không có Hưng vương sao có Đại Hưng thành ? , như thế xét ra lịch sử Trung hoa chỉ có Hưng triều không hề có nhà Tây Hán , nếu hậu thế muốn lấy triều đại của Lí Bôn – Lưu Bang làm tiêu biểu cho Trung hoa thì đấy là triều Đại Hưng , nước đại Hưng dân tộc Hưng …nào phải ́ Hán Hung gì .
Từ Hưng rất quan trọng với Việt tộc vì thời Hoa Nam thập quốc anh em Lê Ẩn – Lê Nghiễm (sử Tàu viết thành họ Lưu) kiến lập nước Đại Việt sau đổi thành Đại Hưng với lí do họ là con cháu của Lưu Bang (Lí Bôn) quê ở đất Phong hay Phong châu , y như thời Đại Hưng – Tây Hán cũ sử Tàu đã đổi Đại Hưng thành ra Đại Hán sau gọi là nước Nam Hán . Ở tận Quảng Đông thì làm gì có Hãn nào ?.
Nhà nghiên cứu sử Bách Việt 18 cho biết câu đối ở Đình Dương Lôi Tân Hồng – Bắc Ninh  như sau :
李核出五蘝肇嗣和刀天 應瑞
Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự ‘hòa đao’ thiên ứng thụy
蓮花開八葉結成木子地鐘靈
Liên hoa khai bát diệp, kết thành ‘mộc tử’ địa chung linh.
Và Tạm dịch:
Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành
Hoa Sen mở tám lá, kết thành họ Lý ở đất linh thiêng.
“Hòa đao” 和刀là chiết tự của họ Lê黎
“Mộc tử” 木子là chiết tự của họ Lý 李
Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý nhưng triều đại trước cái nền để nhà Lý ra đời không thể là nhà tiền Lê của Lê đại Hành như sử Việt chép vì có kể cả Lê long Việt làm vua 3 ngày thì nhà tiền Lê cũng chỉ có 3 đời vua lấy đâu ra …Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành. Việc đã qúa rõ làm gì có Lưu với Hán .
Nếu Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý ở Thăng long thành thuộc Phong châu tức đất phía Tây thì 5 đời vua Lê ở vế trên phải  ứng với 4 đời vua Đại Việt – Đại Hưng cộng với vì chúa tạo dựng nhưng không xưng vương là Lê Ẩn ở Hưng vương phủ – Quảng châu kinh đô nước Đại Việt – Đại Hưng thời triều đình phía đông ?.
Đáng buồn là cộng đồng ‘Hưng nhân’ chưa hoàn toàn thóat hẳn cảnh vong quốc thất tộc , vẫn tưởng mình là người Hán con cháu các thiền vu – Đại hãn Hung nô , vẫn đang nói thứ tiếng Mãn đại nhân , vẫn nhận quê cha đất tổ mình ở bờ Hoàng hà , vẫn qùy ôm đống mối mà khóc mấy bộ xương chủng Mongoloid , sau cùng nặng nhất là vẫn ‘tội lỗi’ khinh miệt gọi Bách Việt cha ông đích thực của mình là Nam man , Man Di mọi rợ .

    Hôm nay: 22/10/2018, 7:21 am