Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


November 2017

MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   

Calendar Calendar

Khách thăm







KINH VIỆT và LẠC VIỆT: Chuyện kể từ Nhân học Phân tử TT

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 764
Join date : 31/01/2008

KINH VIỆT và LẠC VIỆT: Chuyện kể từ Nhân học Phân tử TT

Bài gửi by Admin on 14/11/2017, 10:24 am

6. Từ đất Đông Sơn ra biển cả
Người Iban hay Dayak Biểnở Sarawak, phần đất nay thuộc Mã lai, thì không phải là nhóm Dayak ở Indonesia trong nghiên cứu của nhóm Lipson, một trong những dân mà, theo Lipson và cộng sự, trong atDNA của họ có một phần đáng kể bắt nguồn từ tổ tiên của các tộc người nói tiếng Nam Á ở ĐNA. Nhưng hai bên cùng một gốc, và như thế người Iban cũng có một phần nguồn gốc di truyền Nam Á. Nhưng như nghiên cứu của nhóm Simonson cho thấy, người Iban rõ ràng đặc biệt hơn nhiều – nổi bật nhất là di truyền giòng cha của họ khá giống người Việt ở các nhóm đơn bội, và tần suất các nhóm này nơi họ thì nhìn chung sai khác tương đối không lớn so với người Việt (x. Table S3, [15]). Sự tương đồng phải nói là đến mức khó tưởng tượng khi so sánh với số liệu Y-DNA người Kinh, lấy từ He et al (2012) và ”sơ hóa” lại cho tiện so sánh.




Hình 4. Các nhóm đơn bội Y-DNA nơi người Iban và Việt/Kinh

Số liệu Y-DNA của người Việt vv. trong nghiên cứu của Simonson và cộng sự có từ một nghiên cứu từ năm 2003. Lượng người được khảo sát ít, chưa đủ tính đại biểu, nhưng nhóm Simonson dùng nó vì chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cho phân tích at-DNA. Để có một so sánh tốt hơn, và thích hợp cho mục đích bài viết này, do đó cần có số liệu Y-DNA của người Kinh, Mường, nhưng đáng tiếc là chúng ta chỉ có số liệu khả tín cho trường hợp người Kinh mà thôi.
Như hình 4 cho thấy, khi thay Y-DNA người Việt (9 người, Nam Bộ) bằng Y-DNA người Kinh (76 người, Hà Nội) thì chẳng hạn ”khá giống” ở trên phải thay bằng ”100%”.




Hình 5. PC analysis, Simonson et al (2011)

Đương nhiên, để hình dung rõ hơn về sự gần gũi di truyền theo giòng cha giữa người Iban và người Việt/Kinh, cần phải nêu số liệu các nhóm dân khác. Tuy nhiên Principle component analysis như được minh họa trong hình 5 (lấy từ Fig. 3, [15]) còn nói được nhiều hơn thế.
Ở đây, như các tác giả giải thích, “PC1 phân cách thổ dân Đài loan, người Philipin, Nusa Tenggara … với người Iban, các dân ĐNA khác và những dân Trung quốc. Sự cách biệt giữa người Iban và một nhóm thổ dân Đài loan dựa trên PC1 bác bỏ mạnh mẻ ảnh hưởng Đài loan trên người Iban. Từ PC2, người Iban, Việt, Trung quốc, Philipin và thổ dân Đài loan ở cùng một nhóm (“cluster”) khác với người Mã lai, Nam Borneo, và khác biệt cực kì với Nusa Tenggara …”[16]
Có thể thấy nhiều điểm quan trọng từ giải thích trên, mà một trong đó là: Như đối với trường hợp dân Dayak, PC1 cũng “bác bỏ” dấu tích di truyền Nam Đảo nơi người Việt mà nhóm Lipson nghĩ đến trong suy đoán rằng người Nam Đảo Đài loan đã “hòa huyết” tại Việt Nam trước khi di cư tiếp. Phân giải sâu hơn về nhóm O1a-M119 nơi người Kinh ([15b]) cũng cho thấy, người Kinh chỉ có O1a-P203*, là nhóm có thể có nguồn gốc lục địa, chứ không là một phân nhóm O1a thường thấy ở dân Nam Đảo Đài Loan, đó là O1a-M110.
Điểm thứ hai là sự việc đứng chung nhóm với Trung quốc, Nam Đảo Đài loan vv. trong PC2. Có thể nói, điểm này phản ánh sự gần gũi đặc biệt giữa Việt (Kinh) và Iban so với các dân ĐNA khác, nhất là các tộc Nam Á/Mon-Khmer cổ sơ. Điều này cũng có thể hé lộ phần nào cội nguồn cách đây khg 8.000 năm trước của hai nhóm dân này, nhưng để nói cho rõ, cần có một bài viết khác. (Đúng ra sắp có, để nói trọn vẹn một số điều còn rơi rớt trong bài này. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần tìm hiểu kĩ để bài viết không phải là một suy đoán bay bổng).
Câu hỏi là, Có thể nói được gì về sự gần gũi Việt/Kinh và Iban như phác họa ở trên?
-Như đã đề cập, nhóm Simonson chỉ phân tích Y-DNA và mt-DNA ở mức hỗ trợ cho phân tích atDNA, đủ để suy đoán rằng tổ tiên người Iban đã di cư từ lục địa ĐNA trước khi có cuộc di cư từ Đài Loan. Chỉ riêng sự tương đồng trong tần suất các nhóm đơn bội giòng cha giữa Iban và Việt thôi mà họ đã nói nó “phản ánh giòng gien giống đực chảy từ ĐNA”. Tuy nhiên, do không có số liệu Y-DNA của các dân ĐNA khác, và số liệu Việt của họ cũng không đạt chuẩn, nên con đường di cư trong suy đoán của họ phải là đại khái như minh họa trong hình 3 (từ Campuchia).
Nhưng với số liệu Y-DNA người Kinh đã so sánh với các dân Nam Á khác (không nêu ra để bài viết không quá dài và khô khan), bên cạnh sự hỗ trợ từ xâu chuỗi di truyền qua nghiên cứu của nhóm Lipson, chúng ta có một khả năng rất cao mà trình bày ở trên đưa đến: Sự tương đồng khó tưởng tượng giữa di truyền Y-DNA người Kinh và người Iban cho thấy hai bên có cùng một tổ tiên gần nhất ở Bắc Bộ hoặc vùng lân cận, hay nói cách khác tổ tiên gần nhất của người Dayak Biển là những đàn ông “Việt cổ” đã di cư từ Bắc Bộ hoặc gần đó!
Nhưng rõ ràng những người cổ đó không thể là tổ tiên dân Tai-Kadai (nhiều đột biến M119, M110), cũng như nói chung không thể là tổ tiên những tộc người có di truyền Nam Á nhưng khác biệt Y-DNA với người Việt/Kinh. Vì thế Bắc Bộ là nơi có nhiều khả năng nhất so với khu vực lân cận.
Và không thể nghĩ đó là những người thuộc Văn hóa Đa Bút vv. từ khg 4,5 nghìn năm trước. Có thể người Đa Bút hay Nam Á hoặc Nam Phương cổ sơ nào đó có di cư, nhưng không có lí do hay chứng liệu khảo cổ nào cho thấy một cuộc di cư đông đảo lúc đó (x. Discussion, [18]). Nhưng phải có một cuộc di cư ít nhiều trong tầm mức hàng loạt mới giải thích được vì sao di truyền của toàn vùng tây Indonesia vv. lại có dấu ấn đậm nét của người Nam Á. Như đã nói, đây chính là một điểm yếu trong lí giải của nhóm Soares, cũng là điểm góp phần làm nhóm Lipson vẫn giữ nguyên ý kiến về sự “hòa huyết” trong vòng khg 2.200 năm qua, dù suy đoán của họ bị nhóm Soares bác bỏ.
Thế thì ứng viên thích hợp hơn cả phải là người Việt cổ ở Bắc Bộ cách đây trên dưới 2.500 năm – người Lạc Việt Đông Sơn!
Ngoài ra, có người Đông Sơn di cư thì cũng dễ giải thích một sự kiện khó giải thích đối với mô hình OOT: Đột biến M88 hầu như vắng bóng ở ĐNA Hải đảo trừ khu vực Indonesia, theo một mô thức nhất định: Từ khu vực này, tần suất M88 ít hẳn đi về phía bắc, đến Đài Loan mới có một ngoại lệ (Trejaut et al 2014). O2a-M88 (nhóm con của O2a-M95) là nhóm đông đảo nhất trong người Việt / Kinh. Sự kiện này cũng sẽ rất khó giải thích nếu những người Nam Á di cư là một tộc người không có M88, như Wa, Deang, Blang ở Vân Nam vv.
Trong phạm vi hiểu biết hiện có về Y-DNA của người Iban, khả năng người Đông Sơn như cha chung của Kinh và Iban thì khó có thể phủ nhận dù rằng một phân giải sâu về Y-DNA Iban có thể cho thấy những khác biệt tinh tế (chẳng hạn Iban có khá ít M88 so với Việt / Kinh). Cũng ghi nhận là khả năng này cũng giải thích hợp lí, hay dễ dàng, sự lan tràn của dấu ấn Văn hóa Đông Sơn nơi nhiều tộc người Indonesia vv. mà Tạ Đức đã đề cập. Trong tương quan này tác giả cũng cung cấp cho chúng ta một lí do để hiểu vì sao người Đông Sơn ra đi – qua khẳng định rằng, tổ tiên người Dayak ở Borneo vv. chính là những người Lạc Việt Đông Sơn di tản sau khi bị đánh bại (sdd. trong [9], Phụ lục 16b).
Việc người Đông Sơn di tản vì chiến bại không nhất thiết đòi hỏi thủ lĩnh người Đông Sơn phải là vua An Dương hay sự thua chạy phải xảy ra ngay trong thời Nam Việt Triệu Đà. Nhưng cho dù có sớm hay muộn hơn, sự thua trận hoặc một nghịch cảnh có tầm vóc lớn lao thường vẫn là lí do khiến đông đảo người rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, lũ lượt di cư tìm đất sống khác. Đây cũng là một điểm cho thấy người Đông Sơn có khả năng di cư cao hơn tổ tiên các tộc người Nam Á ở vùng lân cận Bắc Bộ. Người Lạc Việt ở Quảng Tây thì, theo số liệu từng được phổ biến, khó có thể nói là giống với người Kinh trong di truyền giòng cha, dù rằng các nghiên cứu gần đây đều cho thấy atDNA của Lạc Việt Quảng Tây và Kinh Việt rất gần nhau, ít nhất giống hơn là Li Hui vv. muốn nghĩ.
7. Thay lời Kết
Người của một nền văn hóa cổ tại một khu vực / nước không nhất thiết có quan hệ gì với người hiện đang sống ở nước, khu vực đó, vì thế không có gì lạ khi nhiều học giả phương tây không mặc nhiên xem người Việt, nhất là Kinh Việt, có quan hệ gì với người Lạc Việt Đông Sơn. Tuy nhiên không phải vì thế mà có cái nhìn từ phía chuyên gia Trung quốc rằng người Kinh (và Mường) có nguồn gốc từ trung Lào và chỉ mới đến Bắc Bộ giành đất sống của dân Tai-Kadai trong vòng 2 nghìn năm qua.
Như từng được chỉ ra ở diễn đàn viethoc.com (trước khi nó bất chợt ngưng hoạt động năm 2011 ?), cái nhìn này bắt nguồn từ một suy đoán tùy tiện của J.R. Chamberlain – nó không có chỗ dựa trong cả ngữ học lẫn sử học. Sự kiện Li Hui gần như đưa nguyên vẹn suy đoán trên vào bài viết của mình mà không nêu rõ xuất xứ [6] thoạt nhìn tưởng chừng như đạo văn, nhưng nghĩ lại thì điều đó chỉ cho thấy, lúc bấy giờ suy đoán đó có vẻ đã trở thành một thứ chân lí hiển nhiên, quen thuộc với các chuyên gia trẻ Trung quốc. Có lẽ người ta đã hân hoan quảng bá vì nó phù hợp với một ý định chính trị cũng như đáp ứng ước muốn có một câu trả lời dễ chấp nhận, cho nguồn gốc các tộc ”Bách Việt”. Một câu trả lời khác, vững chắc, đã có từ vài năm qua, chuyện còn lại là bao giờ điều này được đưa vào kiến thức phổ thông.
Trong trường hợp người Việt, như hàm ngụ trong bài này, sự phát triễn của ngành nhân học phân tử trong vòng 15 năm qua đã đưa đến cái nhìn phù hợp với khảo cổ vv., rằng từ khg 4.500 năm qua vùng đất nay là Việt Nam là đất sống của di dân nam Mongoloid nói tiếng Nam Á, bên cạnh hoặc lẩn lộn với một số cư dân Hòa Bình còn sót lại ở nội địa. Đáng tiếc chưa thể nói Người Kinh, Mường… có quan hệ ra sao với những di dân đầu tiên ở Bắc Bộ và vùng phụ cận. Điều chắc chắn là, do thành quả nghiên cứu về di truyền của người Mán Bạc gần 4.000 năm trước, chúng ta có thể khẳng định một liên hệ theo giòng mẹ giữa những người Bắc Bộ cách đây khg 4 nghìn năm và người Việt ngày nay (Ken-ichi Shinoda 2010).
Như trong bài này cũng cho thấy, nhân học phân tử đã cung cấp những manh mối giúp thiết lập một liên hệ theo giòng cha giữa người Việt / Kinh và người Đông Sơn qua trung gian Y-DNA Dayak Biển, phù hợp với hiểu biết từ các bộ môn khoa học khác. Trong phạm vi hiểu biết hiện tại, có thể nói người Việt / Kinh dù bị chia lìa với truyền thống văn hóa Đông Sơn, cả cái đẹp lẫn cái … ít đẹp, nhưng di truyền theo giòng cha của họ vẫn là sự tiếp nối từ con người làm ra Văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ trên 2.000 năm trước (hay từ gần 3.000 năm trước, nếu muốn).
Để chấm dứt: Như bảng số liệu Y-DNA ở trên cho thấy, người Kinh có một ít C-M217 và có một số đáng kể O-M122. Đó là điều làm ra ấn tượng rằng người Kinh, về di truyền, bị Hán hóa vv. nặng nề từ thời Bắc thuộc trở đi. Ấn tượng này tương đối khó bác bỏ trừ phi viện dẫn cặn kẻ hiểu biết hiện tại về gốc gác và phân nhánh của hai nhóm trên. Tuy nhiên người Dayak Biển cũng có M217 và M122 với tần suất tương đối không xa người Kinh. Điều này cho thấy, trong cộng đồng cha ông Kinh Việt đã có hai nhóm này từ rất lâu, ít nhất là nhiều thể kỉ trước thời tộc Hán di cư hàng loạt sang vùng phía nam sông Dương tử.
………………………………………………………………………………………………………
Tham khảo (chọn lọc) & Chú thích
1. SW Ballinger et al (1992) ”Southeast Asian Mitochondrial DNA Analysis Reveals Genetic Continuity of Ancient Mongoloid Migration.” Genetics (Jan) 130 : 139-52. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1204787/pdf/ge1301139.pdf. Lưu ý là sự kiện ”di truyền của dân Xyz đa dạng nhất” tự nó chưa có nghĩa là nhóm dân đó cổ xưa nhất, như về sau nhiều người đã khẳng định sau khi HUGO Pan-Asian SNP Consortium (từ đây gọi tắt là tổ chức HUGO Pan-Asian…) đưa ra một công trình qui mô về nguồn gốc ĐNA của người ĐA (2009). Lí do là sự hội tụ của nhiều nhóm dân, hay ”hòa huyết” (admixture), cũng có thể làm nên sự đa dạng này.
2. A. Torroni et al. (1995) ”About the “Asian”-specific 9-bp deletion of mtDNA…” Am J Hum Genet. (Aug) 57(2): 507–508.https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1801542/?page=1
3. a/ Vu-Trieu A. et al (1997), ”HLA-DR and -DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population from Hanoi.”Eur J Immunoget (Oct) 24(5):345-56. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9442802 (Abstract), b/ Ivanova R. et al (1999), ”Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population”. Eur J Immunoget (Dec) 26(6):417-22. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10583463 (Abstract).
4. Tatianna Karafet et al (2001). ”Paternal Population History of East Asia: Sources, Patterns, and Microevolutionary Processes.” Am J Hum Genet. 69(3):615–628.http://dx.doi.org/10.1086/323299. Dữ liệu Y-DNA của người Việt được Karafet và đồng sự thu thập từ năm 1997, và số liệu công bố trong nghiên cứu này là số liệu đầu tiên. Về sau, dữ liệu này được trình bày với phân giải sâu hơn, như được thấy trong T.M. Karafet et al (2005) và T.M. Karafet et al (2010). Về nhóm O-M122, một ghi chép chi li -nhưng không còn được cập nhật- là https://en.wikipedia.org/wiki/Haplogroup_O-M122.
5. ”这些群体的Y染色体遗传结构体现出相当大的一致性, 而与其他系统中研究过的群体完全不 同。他们都有大量的M119、M110 或M95、M88 突变, 而外族极少有这些遗传标记, 与百越接触 少的群体则没有”Li Hui (2002) http://loca.fudan.edu.cn/lh/Doc/A07.pdf. Người đọc không biết tiếng Trung có thể tạm xem https://huvi.wordpress.com/2012/09/19/co-cau-di-truyen-bach-viet-2/ Lời bình của người dịch làm nghĩ, ông không thấy lí do Li Hui loại người Việt ra khỏi Bách Việt.
6. Hui Li et al. (2006) ”Dermatoglyph Groups Kinh Vietnamese to Mon-Khmer”, Intl. Jnl. Anthropology. 21:295–306. http://loca.fudan.edu.cn/lh/Doc/B09.pdf.
7. Xiaoyun Cai et al (2011), ”Human Migration through Bottlenecks from Southeast Asia into East Asia during Last Glacial Maximum Revealed by Y Chromosomes”. PLoS ONE 6(8): e24282, https://doi.org/10.1371/journal.pone.0024282. Phiên bản tiếng Trung nơi tin tưởng về địa bàn của các hệ ngôn ngữ được nói rõ, là http://loca.fudan.edu.cn/coca/PDF/2011/COMONCA05-036.pdf Ghi nhận rằng, dễ dàng thấy số liệu di truyền Y-DNA của Kinh, Mường trong hai bài này là số cũ mà Li đã nhắc đến trong bài viết năm 2002 nhưng không nêu cụ thể.
8. https://en.wikipedia.org/wiki/Dermatoglyphics.
9. Charles F.W. Higham, ” Archeology, Linguistics and the Expansion of East and Southeast Asian Neolithic”, trong R. Blench, M. Spriggs (ed.), Archeology and Language: Correlating archeological and linguistic hypotheses. Routledge (London, New York) 1998. https://books.google.com/books?id=DWMHhfXxLaIC&pg=PA103&hl=da&source=gbs_toc_r&cad=3#v=onepage&q&f=false Để có một một ý niệm về giả thuyết Higham, điểm mạnh, yếu của nó cũng như của các giả thuyết khác (Chamberlain vv.), có thể xem Tạ Đức, Nguồn gốc người Việt người Mường, nxb Tri Thức 2013, tr. 29-40. http://www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/nguon-goc-nguoi-viet-nguoi-muong-chuong-1
10. H. Li et al (2008) ”Paternal genetic affinity between western Austronesians and Daic populations”, BMC Evolutionary Biology. 8:146. http://bmcevolbiol.biomedcentral.com/articles/10.1186/1471-2148-8-146. Nghiên cứu thứ hai là về sự ”bắc tiến” của Mon-Khmer và Hmong-Mien từ ĐNA, vùng được nghiễm nhiên giả định như nơi phát sinh của hai dân này; x. Cai et al 2011, [7].
11. Một hệ luận ở đây, mà Li Hui ở nơi khác (ví dụ x. [13]) có vẻ thừa nhận một cách bí hiểm, là, dân ”Bách Việt” nào có nhiều O2a-M95 thì dân ấy là nguyên là Nam Á/Mon-Khmer (nhưng không nhất thiết là ”Bách Bộc”) bị ngôn ngữ và di truyền Tai-Kadai xâm chiếm. Điều này đúng như nghiên cứu về sau cho phép nói, và nhiều dân ”Bách Việt” ở nam Trung quốc là như vậy!
12. Jerold Edmonson (2007) có một trình bày sống động về Con đường phương Nam như một chân lí khoa học: ”The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam.” http://www.uta.edu/faculty/jerry/pol.pdf. Là một nhà ngôn ngữ học nhưng vị này có vẻ tin nhiều hơn vào giải đoán của các chuyên gia sinh học phân tử Trung quốc. Cũng lưu ý là trong bài này, loại hình Mongoloid được nghiễm nhiên xem như sẵn có ở ĐNA. Phải hai năm sau, suy đoán này, cũng như giả thuyết về Con đường Phương Nam mới được hỗ trợ, thoạt nhìn, do một nghiên cứu của tổ chức HUGO Pan-Asian – có thể xem http://www.nature.com/news/2009/091210/full/news.2009.1139.html. Tổ chức này có dấu ấn đậm nét của tài trợ và chuyên gia Trung quốc, ít nhất cho đến thời gian gần đây.
13. Li Hui (2011), ”Common origin of the Austronesian and Daic Populations”. Communication on Contemporary Anthropology, 5:e28/173-177 http://loca.fudan.edu.cn/coca/PDF/2011/COMONCA05-028.pdf. Một bản dịch đáng đọc (trừ một hai hạt sạn), được thấy ở đây: http://kattigara-echo.blogspot.com/2013/03/coi-nguon-chung-cua-cac-cu-dan-nam-ao.html
14. a/ Manfred Kayser et al (2008), ”The Impact of the Austronesian Expansion: Evidence from mtDNA and Y Chromosome Diversity in the Admiralty Islands of Melanesia.” Mol Biol Evol 25 (7): 1362-74 https://doi.org/10.1093/molbev/msn078; b/ T. Karafet et al (2010) ”Major East–West Division Underlies Y Chromosome Stratification across Indonesia.” Mol Biol Evol 27 (8): 1833-1844. https://doi.org/10.1093/molbev/msq063. Trong Karafet et al (2010), lần đầu tiên M88 (đúng hơn, một dấu gien ngang hàng với nó, M111) được cho biết là có với số lượng đáng kể nơi người Việt.
15. a/ Min-Sheng Peng et al (2010), ”Tracing the Austronesian Footprint in Mainland Southeast Asia: A Perspective from Mitochondrial DNA.” Mol Biol Evol 27 (10): 2417-2430. https://doi.org/10.1093/molbev/msq131; b/Jun-Dong He et al (2012), ”Patrilineal Perspective on the Austronesian Diffusion in Mainland Southeast Asia. PLoS ONE 7(5): e36437. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0036437.
16. Tatum S. Simonson et al (2011), ”Ancestry of the Iban Is Predominantly Southeast Asian: Genetic Evidence from Autosomal, Mitochondrial, and Y Chromosomes.” PLoS ONE 6(1): e16338. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0016338.
17. Pongsakorn Wangkumhang et al (2012), ”Insight into the Peopling of Mainland Southeast Asia from Thai Population Genetic Structure.” PLoS ONE 8(11): e79522 https://doi.org/10.1371/journal.pone.0079522
18. Mark Lipson et al (2014), ”Reconstructing Austronesian population history in Island Southeast Asia.” Nat Commun (august) 5:4689 https://dx.doi.org/10.1038%2Fncomms5689.
19. Pedro A. Soares et al (2016), ”Resolving the ancestry of Austronesian‑speaking populations”. Hum Genet 135 (3):309–326. https://dx.doi.org/10.1007%2Fs00439-015-1620-z
20. Viết cho một người trong nhóm Lipson và cố tình không đề cập đến nghiên cứu của Simonson và cộng sự, tôi nêu ý tưởng người Đông Sơn di cư, chứ không phải dân Nam Á chung chung đã ảnh hưởng đến di truyền người Dayak. Tôi cũng nói xa gần về phân tích của Soares lq. đến ĐNA Lục địa như có phần gượng ép. Lipson trả lời ”Tôi nghĩ những gì anh nói là sự thật,” nhưng mô hình tính toán và giới hạn đặt ra lq. đến dữ liệu các nhóm dân được nghiên cứu (chỉ những dân ĐNA cổ sơ ”tinh tuyền về di truyền”) không cho phép nói hơn. Lipson nhắc tôi xem lại phần thảo luận trong bài viết của nhóm ông để nói, họ vẫn có lí do để vẫn giữ nguyên ý kiến dù ”không tính được hướng và thời điểm pha trộn di truyền lần đầu tiên (…) Và tôi hoàn toàn đồng ý với anh là nghiên cứu của của Soares không phải là tiếng nói quyết định.”

    Hôm nay: 19/11/2017, 2:32 am