Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


December 2017

MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

Khách thăm







Tiền và hậu Ngô vương

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 765
Join date : 31/01/2008

Tiền và hậu Ngô vương

Bài gửi by Admin on 27/3/2017, 3:08 pm

Sử Việt và sử Trung hoa chỉ có 1 Ngô vương .

Với sử Việt là Ngô Quyền cũng thường chép là Ngô vương con rể của Dương Diên Nghệ (chồng của Dương như Ngọc) .

Với sử Trung quốc Ngô vương tức Ngô vương Quyền cũng là Ngô Tôn Quyền , sử thường chép là Tôn Quyền là vua kiến lập nước Ngô thường gọi là Đông Ngô (trong thế đối nghịch với Tây Thục).

Sử thuyết Hùng Việt cho là lịch sử nước Hùng Việt có 2 Ngô vương , Tiền Ngô vương là Ngô Tôn Quyền hay Tôn Quyền vua nước Đông Ngô thời Tam quốc và Hậu Ngô vương là Ngô Quyền trong sử Việt , đức Ngô Quyền được sử Việt coi như là vua trung hưng đất nước mở ra thời độc lập tự chủ sau ngàn năm Bắc thuộc .

Đặc biệt giai đoạn lịch sử này giới sử học Việt Nam lầm lẫn rất nhiều ;Việt sử hầu như bị lái qua 1 hướng khác mất hẳn sự liên thông với qúa khứ xa xăm 5000- 6000 năm thời Tam hoàng – Ngũ đế ( phần dã sử có mấy hàng chữ nhận là con cháu của Thần Nông Viêm đế chung chung) .

Đối chiếu 2 dòng sử viết về Tiền Ngô vương nhận ra sự tương đồng :

Tiền Ngô vương .

Sử Việt NamSử Trung hoaGhi chú
Dương Diên NghệTôn KiênThời Lưỡng triều kháng ngụy
Dương Đình NghệTôn SáchSử Tàu gọi là thời Tam quốc
Ngô vương – Ngô QuyềnTôn Quyền – Ngô vương Quyền – Ngô tôn Quyền 

Ngô Quyền là con ruột Dương Diên Nghệ – Tôn Kiên không phải là con rể như sử Việt viết .

Tôn Kiên từ miền Đông Nam Trung quốc chỉ 1 lần ra quân sấm sét đã đánh tan quân Đổng Trác , tịch thu ấn truyền quốc của Hán tộc đem về Nam ; thật là vinh quang biết mấy nhưng giữa đường bị 1 tướng dưới quyền của Lưu Bị phục binh dùng tên bắn tử thương . Đây chính là nguyên nhân gây ra ‘thù trong’ trong cuộc chiến ‘thù trong – giặc ngoài ‘ giữa 3 bên Thục – Ngô – Ngụy , nước Ngụy chính à vế ngụy – ngoại – ngoài . Sư kiện Tôn kIên chết vì mũi tên củ̃a 1 tướng Tây Thục được người viết sử Việt biến thành 1 nhân vật : Kiều công Tiễn phản bội giết chết Dương diên Nghệ , công là ông , không phải Kiều công chính xác là Kiểu công – Cửu công – số 9 chỉ phía Tây tức Tây Thục của Lưu Bị .

Về Hậu Ngô vương , Sử thuyết Hùng việt tóm tắt sắp xếp trong bảng sau :

Sử ViệtSử Trung hoaSử thuyết HV
Khúc thừa Dụ – ông CụLưu tri Khiêm – Lê Khiêm (lưu tri thiết Lê) 
Khúc Hạo – ông CậuLưu Ẩn – Lê ẨnNgô xương Văn – Ngô xương Ngập
Khúc thừa Mỹ – ông CảLưu Nghiễm – Lưu Cung
Lê Nghiễm – Lê Cung
Ngô văn Xương – Ngô vương (văn xương thiết vương)

Việt sử thông giám cương mục (Tiền biên) viết: “Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ…” . năm 905 nhà Đường công nhận ông là Tĩnh hải quân tiết đ̀ộ sứ .

Có tài liệu cho rằng quê của họ Khúc là châu Đường Lâm mà nay thuộc Thanh hóa nhưng có sử liệu khác cho châu Đường Lâm này  là  Đường Lâm, Sơn Tây thuộc Phong châu .

Năm ,906 vua Đường phong thêm cho Khúc Thừa Dụ tước “Đồng bình chương sự” , ngạch quan trung ương chỉ đứng sau Tể tướng .Dù ông không xưng vương xưng đế, nhưng đời sau nhớ ơn và gọi ông là Khúc Tiên chủ..

Năm ,907 Khúc Thừa Dụ mất. Con ông là Khúc Hạo lên kế vị lãnh chức Tĩnh hải quân tiết độ sứ . Khúc Hạo có công kiến tạo nề nếp cho đất nước nhưng không xưng vương , ông mất năm 917 .

Năm 917 Khúc Hạo mất , Khúc Thừa Mỹ thay anh làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ , Năm 923 hoặc 930 bị tướng Nam Hán bắt đem về Phiên Ngu .

Đồng thời với họ Khúc dắy nghiệp . bên Trung quốc có họ Lưu của Lưu tri Khiêm:

Năm 879, quân nổi dậy của Hoàng Sào tràn vào thủ phủ Quảng châu của Lĩnh Nam Đông đạo. Sau khi Hoàng Sào từ bỏ Quảng châu vào năm 880, khu vực rơi vào cảnh hỗn loạn. Lưu Khiêm thừa cơ chiếm cứ Phong châu. Năm 883, Đường Hy Tông bổ nhiệm Lưu Khiêm làm Phong châu thứ sử. kiêm Hạ Thủy trấn sứ.

Theo Tân Đường thư, ông là người Thượng sái, song đến sống ở Phong châu do nhiễu loạn ở quê hương. phụ thân ông là Lưu An Nhân là người Thượng sái và chuyển đến vùng Mân (tức Phúc Kiến)

Sau khi Lưu Khiêm qua đời vào năm 894, Đường Chiêu Tông bổ nhiệm Lưu Ẩn làm Phong châu thứ sử thay thế cho cha.

Năm 905, Đường Ai Đế ban chức ‘Đồng bình chương sự’ cho Lưu Ẩn

năm 908 Hậu Lương Thái Tổ sách phong Lưu Ẩn làm Tiết độ sứ cả hai quân là Thanh Hải quân và Tĩnh Hải quân ( tương đương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam và một phần Quảng Tây, trị sở nay thuộc Hà Nội, Việt Nam) kiêm An nam đô hộ .

Năm 909, Hậu Lương Thái Tổ phong Lưu Ẩn là Nam Bình vương

Cũng vào năm 910, Hậu Lương Thái Tổ phong Lưu Ẩn là Nam Hải vương.

Năm 911, Lưu Ẩn lâm bệnh mất , em ông là Lưu Nham nắm quyền cai quản quân.

Năm 917, Lưu Nham tuyên lập nước Đại Việt định đô ở Phiên Ngô , truy tôn Cha Lưu Tri Khiêm là Thánh Vũ hoàng đế miếu hiệu “Đại Tổ” , anh Lưu Ẩn là “Tương Đế”, thụy hiệu “Liệt Tông”, táng tại Đức lăng.

Vương quốc Đại Việt cho mở rộng Hưng Vương Phủ (ngày nay là thành phố )Quảng Châu làm kinh thành .

Chính Hưng vương phủ đã chỉ ra Lưu Ẩn trước đó mang tước Hưng vương , có Hưng vương thì mới có Hưng vương phủ , Sử sách Tàu đã giấu nhẹm chuyện này vì Hưng vương liên quan tới Phong châu nơi Lưu Tri khiêm làm Thứ sử .

Theo sử sách Tàu thì Phong châu nơi Lưu Tri Khiêm làm thứ sử là thành phố Triệu khách – Quảng đông ngày nay như vậy Ta – Tàu 2 phương tời cách biệt không có gì phải bàn về họ Khúc Việt và họ Lưu Tri Trung hoa .

Có Thông tin …Tùy Văn Đế năm 598 đổi Hưng châu thành Phong châu, tức là vùng Sơn Tây, Phú Thọ, Tây Bắc Việt này nay như thế có thể coi đất Phong châu khởi phát của Cha con họ Lưu tri cũng là Hưng châu ; phải chăng chính vì thế mà Lưu Ẩn còn gọi là Hưng vương và cũng vì thế mà có Hưng vương phủ ở Quảng châu sau mở rộng thành kinh đô nước Đại Việt năm 917 . ?Cũng do Hưng châu mà lịch sử Việt có Bố Cái đại vương Phùng Hưng , Hưng châu sau gọi là Tồng Hưng hoá trên bản đồ Việt .

Đối chiếu 2 dòng sử Việt và Trung hoa nhận ra :

Cùng quãng thời gian ở Cũng 1 vùng đất Phong châu – Hưng châu không thể có 2 dòng thủ lãnh họ Khúc và Lưu Tri .

Sử thuyết Hùng Việt cho rằng :

Thực ra không có thủ lãnh họ Khúc , đây chỉ là trò chơi chữ nghĩa mà thôi ,  bài viết trước đã chỉ ra :

Khúc thừa Dụ chính xác là Cúc Dụ . Cúc dụ thiết Cụ , ông Cụ .

Họ Khúc ngày nay hóa thành tên của làng Cúc bồ (Có lẽ là làng Cúc Bố thì hợp hơn tương tự trường hợp Bố – Cái đại vương ) .

Khúc Hạo hay Cúc hạo thiết cậu – ông Cậu

Khúc thừa Mỹ – Cúc Mỹ thiết Cả – ông Cả nghĩa là thủ lãnh , người lớn nhất .Gọi là ông Cả vì mãi tới đời Khúc thừa Mĩ họ Khúc mới chính thức kiến quốc xưng vương .

Ông Cụ ông Cậu ông Cả mới đích thực là tên mà nhân dân gọi thủ lãnh của mình.

Và Lịch sử Trung hoa cũng chẳng có anh em Lưu Ẩn – Lưu Cung .

Lưu Khiêm cũng là Lưu Trí Khiêm ; theo phép phiên thiết Hán văn : lưu tri thiết Lee tức họ Lí hoặc Lê . lịch sử không có ai là Lưu Khiêm – Lưu Ẩn – Lưu Nghiễm gốc ở Phong châu nay là Triệu Khánh mà chỉ có cha con Lê Khiêm – Lê Ẩn – Lê Cung gốc ở Phong châu hay Hưng châu Tây Bắc Việt Nam ngày nay .

Khúc thừa Dụ , Khúc Hạo , Khúc thừa Mĩ của dòng sử Việt chính là Lê Khiêm , Lê Ần và Lê Nghiễm hay Cung trong sử liệu Trung hoa .

Tìm hiểu thêm 1 chút :

Sách Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát (1031 – 1095) viết:
Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại loạn lạc, Ngô Văn Xương mới chiếm An Nam rồi dần chiếm đất của Giao, Quảng…

Thời Ngũ đại người Giao Chỉ trước chiếm An Nam sau chiếm đất Giao đất Quảng thì không ai khác ngoài anh em Lê Ẩn – Lê Nghiễm hay Cung.

Sử Việt chỉ có anh em Ngô xương Văn và Ngô xương Ngập không có ai là Ngô văn Xương con của Ngô Quyền .

Thẩm Quát được coi là nhà bác học tầm cỡ của Trung hoa nên điều ông ta viết ra không thể xem thường .

Sử thuyết Hùng Việt cho Ngô văn Xương của Thẩm Quát chính là anh em Lê Ẩn – Lê Cung , văn xương thiết vương , Ngô văn Xương không phải là tên riêng mà là Ngô vương cụm từ chỉ các vương nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngung hay Phiên Ngô ở đây chính là chỉ anh em Lê Ẩn – Lê Cung ..

Nối kết đối chiếu với sử Việt …Ngô văn Xương cũng là Ngô xương Văn luận ra : anh em Lê Ẩn – Lê Cung cũng chính là anh em Ngô xương Văn – Ngô xương Ngập .

Tới đây có thể hiệu chỉnh 1 đoạn lịch sử Việt :

Thời Hậu Ngô trong sử Việt chính là thời anh em Lê Ẩn – Lê Cung dựng nước Đại Việt kinh đô ở thành Phiên Ngu năm 917 .

Ngô văn Xương – Ngô vương dựng nghiệp từ đất An Nam sau mới thu phục Giao châu và Quảng châu , hợp nhất lãnh thổ và dân cư 3 vùng miền lập nên nước Đại Việt năm 917 , kinh đô đầu tiên đóng ở thành Phiên Ngu – Ngô .

Sau Ngô vương Lê Nghiễm nhận mình là hậu duệ của Lí Bôn (Lưu Bang) nên đổi tên nước thành Đại Hưng , người Tàu cố ý mợp mờ biến ra Đại Hán sau gọi là Nam Hán .

Sử chép …Lưu Bang người đất Phong , đất Phong chính là Phong châu – Hưng châu của Ngô vương nên Ngô vương Lê Cung mới truy nhận và đổi tên nước theo tên gọi quê hương mình . Sử thuyết Hùng Việt cho Lí Bôn trong Hùng phả là Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang , từ Trịnh chỉ Nam Trịnh là nơi đứng chân ban đầu của Lưu Bang khi mới xưng vương , Hưng đức thực ra là Hưng đế cũng là Hưng lang nhắc nhở về quê cha đất tổ Phong châu – Hưng châu của Lí Bôn – Lưu Bang .

Đoạn sử đồng thời cũng chỉ ra :

Lịch sử Việt phải thêm vào triều Dương của vua Dương Tam Kha tức Dương bình vương đồng thời xóa ngay đi chuyện thái hậu Dương vân Nga lấy ngôi cả của con tặng cho người tình là tướng Lê Hoàn tức vua Lê đại Hành . Không biết bởi tại đâu mà đám hậu sinh mắc tội tày đình vấy máu heo máu chó vào long bào người anh hùng phá Tống – bình Chiêm như thế . Phải chăng là tại nghe theo Tứ khố toàn thư …cái bẫy giăng sẵn cực kì thâm độc của kẻ thù ?…

    Hôm nay: 11/12/2017, 12:33 pm