Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


July 2018

MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     

Calendar Calendar

Khách thăm







Bàn thêm về Triệu Đà và Nam Việt .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 825
Join date : 31/01/2008

Bàn thêm về Triệu Đà và Nam Việt .

Bài gửi by Admin on 22/2/2017, 2:43 pm

Trong cuộc tranh luận liệu triều đại của Triệu Đà có phải là triều đại của lịch sử Việt Nam hay không … trong phe ‘không’ có người viết trên WIKI tiếng Việt .

Trích nguyên văn :

…Có người cho rằng quan điểm của các sử gia Việt Nam và Trung Quốc, một nước phong kiến khác tại châu Á, có sự khác nhau. Ở Trung Quốc, có nhiều triều đại, điển hình là Bắc Ngụy thời Nam Bắc triều, nhà Nguyên, nhà Thanh đều xuất thân ngoại tộc, không phải người Hán, nhưng sử sách vẫn chép như những triều đại khác của Trung Quốc, không coi là thời kỳ bị nội thuộc người Mãn Châu hay Mông Cổ. Theo học giả Lê Thành Khôi (năm 1955) thì mặc dù gốc Trung Hoa, Triệu Đà đã chịu đồng hóa với dân Nam Việt, mà ông chấp nhận các phong tục tập quán đến độ gần như quên cả quá khứ của mình.

Ngược lại, những quan điểm phản bác (lập luận của ông Lê thành Khôi ) cho rằng:

Bắc Ngụy, nhà Nguyên, nhà Thanh phát tích từ Nội Mông và Mãn Châu, ngày nay các lãnh thổ này đều đã thuộc về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Vì lẽ đó, các dân tộc Mông Cổ, Mãn Châu cũng đã là 1 thành viên trong nước Trung Hoa hiện đại. Đối với đất nước Trung Quốc ngày nay, các dân tộc này dù là thiểu số nhưng vẫn có địa vị pháp lý và quyền công dân ngang hàng với người dân tộc Hán, do vậy triều đại của các dân tộc thiểu số này cũng phải có địa vị pháp lý ngang hàng với các triều đại của dân tộc Hán.

Những triều đại như Bắc Ngụy, nhà Nguyên, nhà Thanh khởi phát từ dân tộc thiểu số, nhưng về sau họ đều sử dụng tiếng Hán, dùng quan lại người Hán để trị quốc, nghi lễ tập tục trong triều đình đã Hán hóa phần lớn (thậm chí người Mãn đã Hán hóa đến mức ngày nay chỉ còn một số rất ít người già còn biết tiếng Mãn, còn lớp trẻ chỉ biết tiếng Hán). Một phần người Mông Cổ hay người Mãn ngày nay là 2 trong số 56 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Trung Quốc, tức là lịch sử của họ cũng có thể coi là một phần lịch sử quốc gia, do vậy việc công nhận các triều đại này cũng không có gì là là bất hợp lý (Giả dụ nếu người Tày, người Nùng lập nên một triều đại cai trị Việt Nam, thì Nhà nước Việt Nam hiện nay cũng sẽ công nhận đó là một triều đại chính thống của Việt Nam, bởi người Tày, người Nùng giờ đây cũng là 1 thành viên trong 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam).

Trong khi đó, nhà Triệu của Triệu Đà không có cả 2 đặc điểm trên: Triệu Đà là người Trung Hoa, quê ở mãi tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc), và người Việt Nam thì gần như không có ai coi người Trung Hoa là 1 dân tộc bộ phận của đất nước mình. Mặt khác, nhà Triệu dùng phần lớn quan lại là người Trung Hoa và ngôn ngữ cung đình cũng là tiếng Hoa chứ không hề “Việt hóa” (bởi quan niệm của người Trung Hoa khi đó đều coi dân tộc mình là trung tâm văn minh, còn dân Việt chỉ là đám “Man di” thấp kém). Do đó không thể công nhận nước Nam Việt giống như Trung Quốc công nhận nhà Nguyên, nhà Thanh được…

(Nguồn https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%A5n_%C4%91%E1%BB%81_ch%C3%Adnh_th%E1%BB%91ng_c%E1%BB%A7a_nh%C3%A0_Tri%E1%BB%87u).

Không tài giỏi tinh tế gì chỉ cần lướt qua đoạn trên cũng có thể khẳng định ngay tác giả chắc chắn không phải là người Việt mà là 1 tên tào lao (Từ Liêu – Tàu) nào đó .

Phải nói ngay Sử thuyết Hùng Việt coi những dòng viết về Triệu Đà và nước Nam Việt trong sử sách Tàu là những dòng sử ‘đểu’ tức đó chỉ là thông tin do lũ đểu cáng bịa ra nhằm vừa nhục mạ người Việt vừa che lấp 1 đọan trong lịch sử chân xác người họ Hùng .

Với Sử thuyết Hùng Việt thì không có nước Nam Việt mà chỉ có triều đình Phiên Ngung chia đôi Thiên hạ với triều đình Trường An (của những tướng lãnh đại thần nhà Hiếu chống phe cánh con cháu Lữ hậu) . Cả 2 triều đình đều nhận là người kế thừa chính thống ngôi hoàng đế của Hiếu cao Lí Bôn . Thông tin trong những văn bản qua lại giữa 2 triều đình đã dẫn trong sử liệu 1 phần thật thì đến 3 phần gỉa . Với việc khám phá lăng mộ vua họ Triệu ở Quảng châu đã chỉ ra sự Thật , chỉ có Văn đế Triệu Mạt chẳng hề có ai là Triệu Hồ con của Trọng Thủy – Mị châu , Văn đế hành tỉ xác định Triệu Mạt là hoàng đế của cả Thiên hạ chẳng phải là chư hầu của ai , việc sử gia Việt trước nay đoán gìa đoán non cái gọi là đường lối ‘nội đế ngoại vương’ chỉ là chuyện tưởng tượng …

Quan điểm của ‘vị’ nào đó viết ở trên chưa cần xét đến vấn đề lập luận chỉ xét về thông tin thôi đã sai bét sai be .

Trung hoa dùng trong đoạn văn lả nước Trung hoa lập sau cuộc cách mạng Tân hợi năm 1911 , trước đó lịch sử không hề có nước nào gọi là Trung hoa , do đó Trung hoa- Hán tộc nói đến trong bài chẳng dính dáng gì đến Hữu Hùng quốc của Tam hoàng Ngũ đế .

Người ‘Trung quốc’ hiện nay vẫn nhìn nhận tổ tiên họ thuộc chủng Mongoloid và cái nôi của Hán tộc là bờ Bắc Hoàng hà như thế người Mông người Mãn , người Thác bạt nói chung là rợ Hồ .v.v. đương nhiên là 1 thành phần của Trung quốc Hán tộc khỏi phải bàn , xét ra còn hơn thế nữa họ không phải là thành phần bình thường mà là con cháu những người đã tạo dựng nên Hãn quốc này .

Từ ngày Mông cổ đánh chiếm Thiên hạ chính cái đám thiểu số này là cha chú cai trị còn đám con cháu Tam hoàng Ngũ đế chỉ là đám nô lệ bị trị , thân phận thực sự chỉ là lũ súc vật 2 chân , Cách mạng Tân hợi 1911 chỉ giải thoát họ về mặt thân phận …từ nay được làm người chứ chưa khiến họ trở lại làm con cháu Viêm Hoàng , dù DNA đã xác định họ là người Nam Mongoloid nhưng trong tâm thức họ vẫn nhận mình là người Hán chủng Mongoloid ..sụt sùi khóc cái đống mối bên bờ Hoàng hà mà ngỡ mộ cha .

Chúa rợ Thát Hãn Thành cát tư sau khi đánh chiếm 1 vùng đất mênh mông từ Á sang Âu đã lập ra 3 hãn quốc và Đại hãn quốc :

Kim Trướng hãn quốc ở tây bắc,

Sát Hợp Đài hãn quốc ở phía tây,

Y Nhi hãn quốc ở phía tây nam lãnh thổ đế quốc .

Đại hãn quốc thủ đô ở Bắc kinh do chính Thành cát tư hãn cai quản và ngôi đại hãn chỉ truyền cho dòng con trưởng .

Nguyên và Thanh là 2 triều đại của Đại Hãn quốc , Trung quốc ngày nay coi Nguyên và Thanh là những triều đại của mình chẳng hóa ra họ tự nhận Trung hoa lập năm 1911 – 1912 chỉ là tên gọi mới thay cho danh xưng Đại hãn quốc trước hay sao ?.

Nước Hán khởi đầu từ Hán Canh Thủy đế và Hán Quang Vũ đế nguyên xuất thân là 2 tướng cướp Lục lâm thảo khấu (giặc cỏ) . Lưu Huyền Canh thủy đế vắn số , vua Hán coi như tổ của nước Hán trong lịch sử là Hán Quang Vũ đế Lưu Tú lập quốc và lên ngôi hoàng đế ở Hà Bắc ngày nay , Hà Bắc là nơi sinh sống của người chủng Mongoloid nhánh Đông Hồ tức Lưu Tú cũng cùng 1 giống Hồ với vua chúa nhà Nguyên và Thanh . Lưu Tú đánh chiếm Thiên hạ lập ra nước Hán , hơn ngàn năm sau hãn Thành cát tư đặt Thiên hạ dưới móng ngựa lập ra đại Hãn quốc …, Hán và Hãn có khác gì đâu .

Các đại Hãn Mông cổ khi chiếm được Hoa bắc của người Kim vì người Mông vốn là dân du mục ngoài chăn nuôi mục súc thì chẳng biết làm gì , ban đầu họ tính ‘làm cỏ’ hết dân Hoa Bắc lấy đất chăn nuôi súc vật may nhờ Gia luật Sở tài hiến kế ….giết hết họ đi thì người Mông mất công chăn nuôi chi bằng cứ cho họ sống làm ruộng nộp thuế như vậy mình chẳng mất công làm gì mà vẫn có lương thực … Nghe có lí nên Oa khoát đài mới tha chết cho dân Hoa Bắc …, đoạn này nghe tưởng cũng thường thôi nhưng xét kĩ thì thật kinh khủng tóat mồ hôi lạnh …không biết bao nhiêu mạng người suýt đi đoong .

Vua ‘Trung quốc’ tộc Mông cổ chia dân trong đế quốc thành 4 loại người :

Người Mông cổ ,

Người Sắc mục bao gồm người Tây Hạ,Duy Ngô Nhĩ, các tộc ở Trung á, Ba tư,…

Người Hán bao gồm người Hán , Khiết Ðan, Nữ Chân, Cao Li,… vốn thuộc nhánh Đông Hồ là cư dân của nước Kim trước .

Người Nam là ‘Viêm Hoàng tử tôn’ dân nhà Tống .

Người Mông và sắc mục là hàng cha chú , người Hán và người Nam là đám bị trị , trong đó phân biệt người Hán còn được hưởng chút quyền làm người như được đi lính chỉ không được làm sĩ quan , với người Nam tức Viêm Hoàng tử tôn chính gốc dân nước Tống thì thực sự chỉ là nô lệ , bị tịch thu tất cả ngựa và cung tên giáo mác , 10 nhà mới được giữ 1 con dao …phải ở nguyên 1 chỗ hễ rời nhà hay có người đến nhà lập tức phải khai báo với quan ‘đề kiểm’ người Mông cổ …hở ra là bị chém bị giết .

…Đấy là vua của Trung hoa đấy …

Mông cổ phân người trong đế quốc thành 10 hạng trong đó thành phần tinh hoa của Thiên hạ trước là tầng lớp Nho sĩ bị xếp vào hàng 9 chỉ đứng trên ăn mày hàng 10

…Đấy là vua của Trung hoa đấy …

Theo các tính toán của phương Tây, nhà sử học R. J. Rummel ước tính rằng 30 triệu người bị giết dưới sự cai trị của đế quốc Mông Cổ và dân số của Thiên hạ lúc đó giảm xuống một nửa trong vòng 50 năm dưới sự cai trị của đế quốc Mông Cổ.

…Đấy là vua của Trung hoa đấy …

Nhà Thanh văn minh hơn 1 chút không diệt tộc nhưng đồng hóa triệt để .

Quân Mãn Thanh đã ra lệnh cho toàn thể dân chúng phải phải cải đổi văn hóa theo người Mãn thanh , cắt tóc và ăn mặc theo truyền thống dân Mãn, tức là phải cạo nửa phần trước trán, số nửa đầu tóc còn lại thì kết thành bím để ở đằng sau gáy. Mệnh lệnh quy định: muốn giữ đầu phải cắt tóc, muốn giữ tóc phải bị chặt đầu. ..

Sau thời Càn long thì người trong đế quốc tất cả đều là ‘Thanh nhân’ người của băng tuyết và đồng cỏ chẳng còn ai là con cháu Tam hòang Ngũ đế nữa ., Trung quốc chỉ còn là đất nước của người Hán và người Hán hoá …(Trừ số người sáng suốt không bị mê hoặc vẫn tự nhận là Đường nhân ).


…Đấy là vua của Trung hoa đấy …

Nói Trung quốc có 54 dân tộc anh em thì thực là sự cưỡng hiếp ngôn ngữ quá mức ; lí do đã chỉ ra ở những dòng chữ viết ở trên , ngược lại nói Việt Nam có 56 dân tộc anh em là hoàn toàn chuẩn , xét nghiệm DNA chỉ ra họ cùng 1 giống 1 dòng , người Tày người Nùng chưa bao giờ cai trị làm khổ làm nhục người Kinh như kiểu người Mông người Mãn đối sử với người Thiên hạ chính gốc .

Sách sử Trung quốc nói Triệu Đà người Trung hoa sinh ở Hà Bắc …xin thưa theo tư liệu của chính các ông ….Triệu đà sinh khoảng năm 257 TCN ở Hà Bắc như thế Triệu Đà là người nước Triệu , mãi năm 228 TCN Tần diệt Triệu tóm thâu lãnh thổ lúc này Triệu Đà đã 29 tuổi .., có thông tin rợn tóc gáy Tần chôn sống 40 vạn quân Triệu dù đã đầu hàng và ra lệnh giết tất cả con trai Triệu từ 15 tuổi trở lên để trừ hậu họa …thử hỏi như thế Triệu Đà làm sao có thể sống mà làm tướng nước Tần ?.

Thông tin sau cho thấy người viết đã sai hoàn toàn khi nói về triều đình Nam Việt :

…nhà Triệu dùng phần lớn quan lại là người Trung Hoa …

Thừa tướng Lữ Gia là người Việt thì khỏi bàn rồi ngoài ra ông có họ hàng làm quan trưởng đến hơn 70 người; con trai ông lấy con gái vua, còn con gái lấy con trai và tôn thất của vua và có thông gia với cả Tần vương ở quận Thương Ngô. (Sử Ký – Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện – Tư Mã Thiên)

Tư Mã Thiên viết : năm 111 TCN Ở quận Quế Lâm, một viên quan Giám người Việt là Cư Ông, đã chiêu dụ được nước Âu Lạc thần phục nhà Hán (Hiếu ), được phong tước Hầu” tác giả chú giải Tiền Hán Thư sau này đã chú giải rõ thêm “Ở quận Quế Lâm, Giám Cư Ông đã chiêu dụ được 40 vạn quân Âu Lạc ra hàng phục…”.

Nhận ra những thông tin hết sức vô lí trong tư liệu hiện nay đoạn trên được chỉnh sửa thành …quan Giám quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁) dụ 40 vạn dân 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân ra hàng được phong làm Tương Thành hầu …

40 vạn quân Âu Lạc bị sửa thành 40 vạn dân 2 quận Giao chỉ – Cửu chân thực là khác 1 trời 1 vực .

Sách lịch sử Việt cũ đều chép là An Dương Vương mất nước năm 208 TCN. Sách giáo khoa Việt Nam căn cứ vào Sử Ký của Tư Mã Thiên ghi nước Âu Lạc mất năm 179 TCN vì Sử Ký chép là Triệu Đà diệt nước Âu Lạc “Sau khi Lã Hậu chết”, mà Lã Hậu chết năm 180 TCN, do đó nước Âu Lạc mất khoảng năm 179 TCN. Dù Triệu đà chiếm Âu Lạc vào thời điểm nào thì năm 111 TCN làm gì còn nước Âu Lạc để mà hàng …

Để có được 40 vạn quân thì dân số Giao chỉ – Cửu chân ít lắm cũng phải tới 3-4 triệu người so với con số 40 vạn dân khác qúa xa .

Dù là thế nào đi nữa thì đoạn tư liệu trên cũng chỉ ra Âu Lạc là nước lớn và văn minh không hề là đám người còn ở truồng như lời tấu (bố láo) của Triệu Đà với triều đình nhà Hiếu (Tây Hán) chép trong sử đểu .

Sách Giao Châu Ngoại Vực Ký chép : …khi quân Lộ Bác Đức xuôi theo sông Ly xuống đến quận Hợp Phố, vua Việt sai hai quan sứ đem trâu một trăm con, rượu một nghìn chung và sổ hộ tịch hai quận ra hàng. Lộ Bác Đức phong cho hai quan sứ làm Thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân, làm chủ các quan Lạc tướng là những người cai trị dân như trước”.

Kết hợp thông tin trên với thông tin khi Mã Viện nước Đông Hán chiếm Giao chỉ thì ở đấy vẫn do các Cừ súy Việt lãnh đạo , vẫn dùng luật Việt ,Vẫn dùng trống Đồng trong sinh hoạt văn hóa Tâm linh và đất nước được phân chia địa giới hành chánh hoàn toàn khác với nước Đông Hán vì thế Mã Viện đi đến đâu thì lập quận huyện theo kiểu Hán tới đó …Tổng hợp lại có thể suy đoán Triều đại do ông Lí bôn lập ra không phải là 1 triều đại của Hán tộc , vì nếu đã là triều đại của Hán tộc thì Mã Viện không thể thấy những điều đã thấy ở Giao Chỉ , không phải làm những việc đã làm ở Giao chỉ (đồng hóa người Giao chỉ ). Việc sử gia Hán gán ghép danh xưng nhà Tây Hán cho triều đại Lí Bôn là nhằm đánh tráo lịch sử biến cổ sử Hữu Hùng quốc thành cổ sử Hán tộc .

Tóm lại Việc chính trị hóa lịch sử trên trang WIKI đã thấy rõ , mọi người phải cẩn thận với thông tin lịch sử Việt Nam đăng trên đó , đầu tiên là phải xét xem liệu đó có phải bài viết của đám ‘biệt kích’ trên mặt trận văn hóa Trung quốc hay không ?. Điều đáng báo động là những bài viết về lịch sử Việt kiểu này hiện đã tràn lan trên Wiki tiếng Việt , chỉ cần để ý 1 chút về lối hành văn và cách dùng từ là nhận ra ngay .

    Hôm nay: 21/7/2018, 8:59 am