Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


December 2017

MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

Khách thăm







Tóm lược sử nước Nam . Phần 2

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 765
Join date : 31/01/2008

Tóm lược sử nước Nam . Phần 2

Bài gửi by Admin on 9/7/2015, 8:59 pm

Canh thủy đế chính xác là Canh thủy hãn ngồi trên ngai chẳng bao lâu thì bị đạo quân của những người Trung hoa theo đạo Giáo tên là Xích - Mi giết chết , quân Xích - Mi do Phàn Sùng lãnh đạo tôn Lưu bồn tử là con cháu Lí Bôn lên làm vua gọi là Kiến thế đế ( chẳng có ai họ tên là Lưu bồn tử , đấy chỉ là tam sao thất bổn của Lí Bôn tử nghĩ đen là con cháu Lí Bôn ) .

Lưu Tú 1 danh tướng Lục lâm thảo khấu khi ấy đang trấn giữ vùng đất Hồ phía Đông nay là Sơn Tây - Hà Bắc đã tự xưng đại Hãn sử Tàu gọi là Hán Quang vũ đế lập ra triều Đông Hãn tiếp nối triều Hãn Canh thủy đế của Hung nô . Hán Quang vũ đế là danh hiệu cố ý ‘ấm ớ’ khiến người ta không thể dùng thông tin mang ngay trong danh xưng mà truy nguyên ra gốc gác ..., Hán là Hãn  Rợ ngữ nghĩa là đế , Quang thực ra là quan nghĩa là nom – nhìn  là tượng của phương màu đen tức phương Nam xưa (nay đã lộn ngược) , vũ là vua  như thế cả cụm  ...Hán Quang vũ đế...bị chồng lên tới 3 chữ ‘chúa’ : Hãn là chúa , vũ – vua cũng là chúa , sau cùng đế cũng là chúa nốt  , rắc rối thế  thực ra danh hiệu này chỉ có nghĩa là ‘chúa  Nam man’ rất đơn gỉan .

Cùng lúc với Xích Mi cả Trung hoa nổi lên không biết bao nhiêu là vua chúa , mỗi người 1 khoảnh tha hồ xưng tướng xưng vương duy ở miền nay gọi là Hoa Nam Thứ sử Giao châu Đặng Nhượng và các quan thái thú các quận đóng cửa tự giữ châu quận không xưng đế xưng vương gì cả khiến phương Nam được 1 thời  yên ổn  trong lúc Thiên hạ đại loạn . Không nghĩ gì đến giang sơn chỉ bo bo vào cái chức tướng với vương mới vớ được , Ở Hoa Bắc lần lượt tất cả bị Đông Hán của Lưu Tú nuốt gọn ..., đến năm 39 SCN Hán Quang vũ đế phái bọn ‘đầu trâu mặt ngựa’ do Mã diện chỉ huy tiến đánh Giao châu , năm 42 giết được Sĩ Nhiếp tức “kẻ Sĩ nhiếp quyền” bắt đem về Hồ Nam hơn 200 cừ súy tức Qúy tộc Lạc Việt (cừ súy thiết qúy) và Tịch thu trống đồng nấu chảy đúc ngựa dâng Quang vũ – vua Nam man . Hành động bắt đi cừ súy tức người lãnh đạo dân chúng , tịch thu phá hủy trống đồng  tức hủy diệt văn hóa , dùng luật nước Hán  thay luật  cũ để cai trị , đi tới đâu lập quận huyện tới đó tất cả chỉ ra Quan vũ ra sức cắt đứt mọi liên hệ với qúa khứ tổ tiên hòng triệt để Hán hóa người Việt .

Cuối thời Đông Hán,rợ lòi ra mặt rợ  triều chính mục nát, ngoại thích và hoạn quan thay nhau hoành hành , Khắp nơi đều có tham quan ô lại, Hãn Linh Đế lại tăng thêm thuế khóa khiến nhân dân phải nai lưng khổ sai lấy tiền đóng thuế cho vua có thêm tiền xây cất cung điện , Dân chúng cùng khổ xã hội hỗn loạn 3 anh em Trương Giác Trương lương và Trương Bảo là thủ lãnh đạo Giáo lãnh đạo Giáo chúng nổi dậy  đánh đuổi rợ Hồ cứu dân cứu nước . (Giác là can Giáp can số 1 , lương là lưỡng trong lưỡng nghi nghĩa là 2 và Bảo chính là 3) Năm 184 Cuộc khởi nghĩa khăn vàng  nổ ra trong toàn thiên hạ , Trương Giác tự xưng là Thiên công tướng quân, Trương Bảo tự xưng là Địa công tướng quân, Trương Lương tự xưng là Nhân công tướng quân. Khởi nghĩa lấy màu vàng làm sắc chủ , may cờ màu vàng , chít lên đầu khăn màu vàng gọi thiên hạ của mình là trời Vàng vì thế mà có tên là khởi nghĩa khăn vàng .

Vua quan Đông Hán ra sức đàn áp , điều quân Hung nô vô cùng hung ác về bảo vệ kinh thành , quân khởi nghĩa chỉ là đạo quân nông dân ô hợp bị quân Đông Hán giết không biết bao nhiêu mà kể , Các thủ lãnh Trương Giác Trương Lương Trương Bảo lại không may bị bệnh sớm qua đời thêm nữa  ở Hoa Bắc về mặt chủng tộc dân mang nửa dòng máu Hồ ...quân khởi nghĩa không có chỗ tựa vững chắc là quần chúng nên  dần dần từ Tây bắc sang đông Bắc quân khởi nghĩa bị đánh tan , người thì tử trận, người thất trận tự sát số có đến mấy trăm ngàn .

Sử Việt do 1 thời gian phải ngụy trang là truyền tích đạo Mẫu nên gọi cuộc khởi nghĩa Khăn vàng là Khởi nghĩa 2 bà Trưng do chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo (Trưng cũng là Trương , Trắc – Giác thực ra là can Giáp số 1 , nhị và lương lưỡng đều là số 2). Ở Phong châu – Giao chỉ khởi nghĩa Khăn vàng do 2 anh em Triệu quốc Đạt và Triệu thị Trinh lãnh đạo 1 thời làm giặc Hồ khiếp hãi gọi là ‘vua Bà’ nhưng sau dù Triệu quốc Đạt và Nữ tướng Triệu thị Trinh tử trận Nghĩa quân vẫn buộc tướng Hán cũng gọi là mặt ngựa cắm mốc phân ranh xác định biên giới cực Nam của nhà Hán là động Cổ xâm , Khâm châu nay thuộc Quảng Tây (Sử Tàu gọi Đạt vương là Đô dương ) .

Khởi nghĩa Khăn Vàng giai đoạn đầu tuy thất bại ở Hoa Bắc nhưng chính đấy là nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của Đông Hán , để đàn áp khởi nghĩa vua Đông Hán gốc người Liêu nhánh Đông Hồ đã triệu Đổng Trác dẫn đạo binh Tây Hồ  về kinh thành , Quân khăn vàng bị đánh bại cũng là lúc 2 Rợ đánh nhau Vua Đông Hán trở thành món đồ chơi trong tay các tướng rợ .

Tôn Kiên dòng giõi tướng quốc nước Sở trước đã lãnh đạo dân chúng nổi dậy làm chủ miền Đông Nam Thiên hạ . Tôn Kiên dẫn quân khởi nghĩa đánh thẳng vào Lạc dương kinh đô Đông Hán tịch thu ấn truyền quốc của vua Hán đuổi quân Đát của Đổng Trác cùng với Hán đế chạy tuốt về Tây An . Sau Tôn Sách nối nghiệp , đến Tôn Quyền thì xưng đế quốc hiệu là Ngô sử thường gọi là Đông Ngô .

Cùng thời gian này Lí Thiên Bảo sử Trung quốc gọi là Lưu Biểu làm chủ được Hồ nam sau bị quân Tào Tháo tiến đánh phải chạy về Qúi châu sử Việt gọi là Cửu chân , Lí thiên Bảo qua đời Lí Bí sử Tàu gọi là Lưu Bị kế quyền , Lí Bí dần làm chủ Quảng Tây tên xưa là Lâm rồi tiến quân thu phục quận Ích châu nay là Vân Nam xưng là Lí Nam đế (hậu) , vua là Lí Nam đế thì nước phải là nước Nam  nhưng sử Tàu lại gọi là Tây Thục ,  tư liệu lịch sử Việt lầm chép là Khu Liên khởi nghĩa thành công dành đất Tượng – Lâm  ở cực Nam quận Nhật Nam lập nên nước Lâm ấp , quốc danh Lâm ấp có thể là Nam ấp thu gọn của  đại ấp Nam tức kinh đô nước Nam , ở đây người chép tư liệu đã lấy tên thủ đô làm tên nước , cũng có thể  Sử thuyết Hùng Việt cho Khu Liên chính là Lí Bí – Lưu Bị , Lâm là tên cũ của Quảng Tây , Tượng là tên của Vân nam đời Tần , nhà Hiếu sau khi bình Nam Việt lấy đất ấy đặt là quận Ích châu , Ích – Ất biến ra Ấp , Lâm – Ích tức Quảng Tây – Vân Nam hóa thành nước Lâm – Ấp .

Thời sử Tàu gọi là Tam quốc ,nửa phía Đông Giao chỉ do Sĩ Nhiếp Ngạn Uy lãnh đạo về với Đông Ngô , phía Tây cùng Mạnh hoạch theo về với Lí BÍ – Lí Nam đế  (sử Trung quốc gọi là Lưu Bị) .

Trong nội bộ Hán tộc Tào Tháo chiếm ngôi của nhà Đông Hán lập nước Ngụy cũng  gọi là Tào Ngụy sau đó họ Tư Mã lật đổ Tào vương lập nên nhà Tấn , Tấn chỉ là tên thay bằng  phiên thiết : Tây Hán thiết Tấn lịch sử Hán tộc không có nhà Tấn thay thế Tào Ngụy là nhà Tây Hán của hung nô họ Tư Mã .

Cuộc chiến thời Tam quốc thực ra là cuộc chiến ‘thù trong giặc ngoài’ , 2 nước Ngô và Thục hay nước Nam là thù trong giữa 2 nước của người Bách Việt , Ngô Thục chống Ngụy là chống giặc ngoài , ngụy chính là ngoại – ngoài .

Cơ trời vận nước...lần hồi cả 2 nước Ngô và Thục đều bị Ngụy rồi Tấn – Tây Hán tiêu diệt người Bách Việt Hoa nam và Giao chỉ lại rơi vào vòng vong quốc lầm than .

Cuộc kháng chiến của người Việt chống quân xâm lược chưa bao giờ ngừng nên quân Tấn – Tây Hán sa lầy khốn khổ ở đất này (Lĩnh Nam chích quái – chuyện Nam chiếu) không tiến thêm được vể hướng Tây và hướng Nam .

Năm 535 Vũ văn Thái  Đại tướng  nước Bắc Ngụy  đã đoạt quyền  triều đỉnh Hung nô lập ra nước Tây Ngụy , trên cơ sở nước Tây Ngụy năm 557 Vũ văn Giác con Vũ văn Thái tuyên lập nước sử gọi là Bắc Châu theo khuôn mẫu 1 triều đình Trung hoa nhưng phải đợi đến Vũ văn Ung (561-678) diệt Bắc Tề thống nhất Hoa Bắc Vũ văn Ung mới được gọi là Châu vũ đế tức chính thức làm vua Thiên hạ .

Bắc Châu vũ đế sử Việt gọi là Đinh Hoàn tức Đinh hoàng cùng có nghĩa là vua phía Tây thiên hạ .

Nhà Đinh  Sử Việt sai nghiêm trọng gọi là nhà Tiền Ngô của Ngô Quyền đưa đến án oan thiên thu cho Dương thái Hậu và tướng quân Lê Hoàn , Sử thuyết Hùng Việt đã rửa oan cho 2 nhân vật lịch sử tiếng tăm này bằng việc chỉ ra chẳng có ai là tướng quân Lê Hoàn chỉ có Dương tam Kha là cha Dương hậu sau lên ngôi xưng là Dương bình vương của 1 triều Dương bị sử Việt bỏ sót , triều Dương này chính là nhà Tùy của Dương Kiên trong sử Trung hoa , nhà Tiền Ngô chính là nhà Đinh của Đinh hoàn - hoàng .

 Nhà Tuỳ Trung hoa  sử thuyết Hùng Việt gọi là Việt Tủy tức Việt Sở là triều đại lẫy lừng đã kiến tạo 1 Thiên hạ mênh mông phía Nam kéo đến tận đất Champa .

Tùy Văn đế Dương tam Kha và Tùy Dạng đế của nhà Tùy sử Việt biến thành Lê Hoàn và Lê long Đĩnh có đủ điều tốt ...phá Tống bình Chiêm , đào kênh giúp việc thông thương BắcNam thuận lợi cũng như điều xấu ....ăn chơi xa xỉ hoang dâm vô độ .

Sau triều Việt Tủy là Triều Việt Thường của Lí công Uẩn I , sử Trung hoa gọi là nhà Đường . Nhiều người Trung hoa đương đại vẫn coi triều đại này là niềm tự hào dân tộc vô bờ nên xưng mình là Đường nhân tức người Việt Thường chẳng phải Hán hiếc gì cả .

Sử thuyết Hùng Việt đặt ra gỉa định ....phải chăng Lí Uyên là người Việt – Bắc bộ Giao chỉ vì mang tước Đường quốc công tức vị công tước đất Đào – Đường ?. , Từ thời Trung hoa phục hưng người Trung hoa đặt tên triều đại theo nền văn hóa chủ đạo chứ không gọi theo họ của vua như sử Việt , vua Sinh trưởng ở vùng miền nào thì nền văn hóa vùng miền ấy trở thành nền văn hóa chủ đạo của thiên hạ thời ấy .

Giới nghiên cứu ngày nay thừa nhận :

         Phát âm tiếng Hán Việt chính là lối phát âm ở kinh đô thời nhà Đường còn gọi là tiếng Trung hoa cổ (?)  vì thế Thơ Đường phải đọc kiểu Việt mới ra thơ , Phiên thiết Hán văn mà không đọc kiểu Việt thì chẳng ra sao cả ...

Tư liệu thời Tống cho biết Cách ăn mặc ở Giao chỉ chính là cách ăn mặc ở kinh đô Đường .

Sử thuyết Hùng Việt chỉ ra những sự kiện quan trọng nhất của nhà Đường đều được ghi lại trong sử nhà Lí Việt nam như việc Lí Thế Dân giết anh là Thái tử và em là Tề vương để lên ngôi vua  được ghi chép thành “sự biến cửa Huyền vũ của triều lí Việt nam” , việc mở mang học hành thi cử ở 2 triều giống y như nhau ..., (1 chuyện rất nhỏ ...chỉ trong nền văn hóa văn minh Việt thì con vua mới gọi là Lang ...thế mà Lí thế Dân còn gọi là nhị lang , thái tử là đại lang và Tề vương gọi là tam lang) .

Cuối đời Đường nước Nam chiếu thành lập ở Tây Nhị hà , tư liệu viết thế nhưng sử gia Trung quốc vẽ ....nhị hà thành Nhĩ hải , 1 cái hồ ở Vân Nam ....nhưng họ quên ...

Pi lo co hay bì la cáp Thống nhất 6 chiếu lập ra Nam chiếu ở phía Tây nhị hà và ở ngôi trong khỏang năm 728 – 748 , nhà Đường phong là Quy nghĩa vương . Đời sau con là Cái lỗ Phong trong khoảng những năm 748 – 779 mới làm chủ Vân Nam và được nhà Đường phong làm  Vân Nam vương trước khi phản Đường tuyên bố là 1 nước độc lập .

Nam Chiếu đúng ra phải gọi là nước Nam chúa tức nước của chúa phương Nam , phép phiên thiết Hán văn chỉ ra : Pi lo co hay Bì la Cáp chính là Bố – Cái tiếng Việt , người Lào và Thái gọi ông là Khun BOROM vua kiến lập Nan Chao ở Bắc Đông Nam Á lục địa tức phía Tây Việt Nam .

Mãi tới đời Cáp lỗ Phong mới làm chủ Vân nam thì lấy đâu ra ...chung quanh hồ Nhĩ hải cho Bì La Cáp lập quốc  ?.

Nhị hà là tên khác của sông Hồng hay Hồng hà của đất Việt , Tây Nhị hà tức Tây bắc Việt nam và Lào ngày nay , Nước Nam chúa còn có quốc hiệu là Mường bị chữ nghĩa hóa ‘ấm ớ’ thành nước Mông , sau đổi thành nước Lễ , Lễ chẳng qua là chữ tác đánh chữ tộ của Lỗ , là tên nước phong cho ông Châu công Đán thời nhà Châu .

    Sau thời Việt Thường – Đường hiển hách sáng lạn từ nhà Lương của Chu Ôn tức ông  họ Chu tiếng Việt thì Thiên hạ vỡ thành 3 mảnh , Đại Việt – Nam chúa Đại Lí và Đại Tống , từ mốc thời gian này 2 dòng sử Việt và Tống không còn chung Thiên hạ nên đường  ai nấy đi .

Đáng buồn là sử hậu Mãn Thanh tức thời mà khoa học lịch sử của phương Tây trở thành nền của trang sử Trung hoa mới thì người Hán tự nhận mình viết tiếp trang sử Trung hoa mấy ngàn năm trước còn sử gia Việt thì quên béng mất không còn chút kí ức gì về Trung hoa – Hữu Hùng quốc nữa , phớt lờ di ngôn của tiền nhân về lãnh thổ mà khởi đầu dòng sử nòi giống mình  ...xưa Hoàng đế lập muôn nước Giao chỉ ở về phía Tây – Nam xa Bách Việt ...cứ như  là 1 chư hầu của Trung quốc từ buổi ‘khai thiên lập địa’ ... thế mới đau .

Anh em Lê Ẩn – Lê Nhâm từ Phong châu – Giao chỉ  tiến quân bình định cả 1 vùng rộng lớn ở Hoa Nam , Lê Ẩn sắp xếp tổ chức trên đất Tĩnh hải quân và Thanh hải quân cơ ngơi của 1 quốc gia nhưng chưa xưng đế thì mất , Lê Nhâm kế vị năm 917 xưng đế lập nước Đại Việt đóng đô ờ thành Phiên ngung , phiên ngung cũng đọc là phiên ngu – ngô nên  anh em Lê Ẩn – Lê Nhâm chính  là Ngô vương , Ngô vương phiên thiết ra Ngô văn Xương rồi Văn Xương lộn ngược thành Xương Văn ....thật đau đầu .

Nước đại Việt đô Phiên Ngu – Ngô nếu kể cả Lê Ẩn thì có 5 đời ‘Ngô vương’ , đời Ngô vương thứ 5 - Lê sưởng sử Việt gọi là Ngô xương Xí  (xương xí > xi sướng , xi sướng thiết Sưởng) thì nguy cơ xâm lăng của Tống quốc đã cận kề , Triều đình Đại Việt ra quyết sách năm 968 trên đất  Tĩnh hải quân  thời Đường lập ra  Đinh bộ tức phần đất Đại Việt  phía Tây  để chuẩn bị cho 1 triều đình Đại Việt – Đại Hưng mới khi cần đồng thời  bổ nhiệm “ông Lí làng Diên Uẩn” đang là quan điện tiền chỉ huy sứ của nhà Lê kinh đô Phiên Ngu vào chức Đinh bộ lĩnh tức như Tĩnh hải quân tiết độ sứ toàn quyền thời trước .

Qủa nhiên việc đến đã đến , chỉ 2 năm sau , năm 970 tướng Phan Mĩ nước Tống cầm quân tràn chiếm kinh đô Phiên Ngu bắt vua Đại Việt Lê Sưởng  đem về kinh đô Tống quốc .

Theo sử liệu Trung quốc thì năm 970 ‘ông Lí làng Diên Uẩn’ gỉa xưng họ Lê nhận là lưu hậu của dòng vua Lê Đại Việt Đại Hưng – Phiên Ngô cầu phong với nhà Tống  xin làm chư hầu ...nhà Tống thuận cho và  sắc phong ông Lí ‘gỉa xưng họ Lê’ làm Giao chỉ Quận vương sau thăng lên Nam Việt vương . (Nam Việt = Giao châu – lưỡng Quảng nhà Tống gọi là đất Diên - Chỉ gần Ngũ lĩnh) .

Ông Lí làng Diên Uẩn chính là Lí công Uẩn , gọi theo chức vụ thời Đại Việt Đại Hưng – đô Phiên Ngô là quan Đinh bộ lĩnh , gọi theo tên gỉa xưng trong ‘công văn’ gửi sang Tống Triều là Lê Liễn , Lê Liễn mất con là Lê đại Hành kế nghiệp sử Tàu có sách gọi là Lê Uy  như thế 2 đời vua đầu nhà Lí nước Đại Việt – Thăng long phải ‘giả xưng’ họ Lê nhận là lưu hậu của triều vua Lê – Phiên Ngu để xin nhà Tống sắc phong cho yên chuyện , đến đời vua  thứ 3 là Nhật Tôn mới xưng hoàng đế họ Lí đồng thời truy phong và cải họ 2 đời vua Công Uẩn và Đức Chính làm Lí Thái Tổ – Lí Thái Tông của vương triều Lí .

Diễn biến lịch sử thay nhau trị vì của các vua nhà Lê và Lí Đại Việt đông và Tây bị ngòi bút ma qủy của đám pháp sư chăn ngựa biến tấu ra câu chuyện thực khủng khiếp ...

*Sách Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát viết:
...Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại loạn lạc, Ngô Văn Xương mới chiếm An Nam rồi dần chiếm đất của Giao, Quảng. Sau này Văn Xương bị Đinh Liễn giết, Liễn có đất của Văn Xương. Năm thứ sáu niên hiệu Khai Bảo triều ta, Liễn mới quy phục, ban cho chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ; năm thứ tám phong là Giao Chỉ quận vương.
Cảnh Đức nguyên niên, thổ nhân là Lê Uy giết Liễn tự lập; năm thứ ba Uy chết, An Nam đại loạn....


Đoạn ...“Ngô Văn Xương mới chiếm An Nam rồi dần chiếm đất của Giao, Quảng”...đã chỉ rõ : An Nam và Giao chỉ là 2 miền đất hoàn toàn khác nhau , không thể có chuyện nhà Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh hải quân (Giao châu)  được.

Thật là trang sử kinh hoàng ngập máu me...chẳng đâu ra đâu nhưng lại có ảnh hưởng quyết định trên sử gia phong kiến Việt để ngày nay ...nên nỗi này ...không còn biết đâu mà lần ...sử ơi là sử .

Thực ra cuộc chiến Đại Việt - Đại Hưng và Tống quốc không chấm dứt năm 970 khi quân Tống tràn ngập Đông đô Phiên Ngu mà còn kéo dài gần trăm năm nữa Đại Việt mới chính thức chịu mất ‘Quảng Nguyên’ tức phía Đông Đại Việt là đất lưỡng Quảng ngày nay .

Cương giới phía Bắc (nay) Giao chỉ trước lên đến gần nửa phần Quảng Tây ,  trải  các đời Tống Nguyên Minh Thanh dần dần ‘Thiên triều’ mỗi đời gặm 1 ít  nên giờ mới thành đường  biên ngày nay ... y như tiền nhân ...Triều ‘Cộng hoà nhân dân Mãn Thanh’ chưa thôi  ...mà vẫn tiếp tục ...gặm và gặm  , nhãn tiền là cái lưỡi bò 9 đoạn ngoài biển Đông – Động đình hồ của người Việt , thực ra họ đang ‘chửi cha mắng mẹ’ vì nhà Thanh tiền nhân của họ vẫn gọi tên phía Bắc vùng biển ấy là Giao chỉ dương , phía Nam (nay) là La hải ; La hải là biển của người La - Chăm  (Ngưởi bắc bộ là người Canh – Kinh) , sự thể rõ ràng như thế còn gì nói ?.

    Hôm nay: 11/12/2017, 12:27 pm