Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


October 2017

MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     

Calendar Calendar

Khách thăm







2 Mã Viện .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 760
Join date : 31/01/2008

2 Mã Viện .

Bài gửi by Admin on 5/11/2014, 11:37 am

Thời Nguyên Mông ở bên Tàu đã ra đời 2 quyển sách viết về lịch sử và văn hóa An nam , sau Việt sử lược khuyết danh là An nam chí lược của Lê Tắc . Lê Tắc kẻ sĩ ‘đen’ đã sọan An nam chí lược theo góc nhìn của 1 bầy tôi đại hãn nên từ ý tứ tới lời văn khó có thể chấp nhận .
Lê Tắc chưa chắc đã phải là tác gỉa của An Nam chí lược mà rất có thể chỉ là người bị buộc đứng tên thay cho đám ‘ cạo sử gia’ đê tiện đi lừa thiên hạ …người An nam viết lịch sử nước An nam thì chắc là thật… ?.
Nhưng đám gian manh chẳng thể nào lấy tay che mặt trời ; An Nam chí lược …. đã để lọt nhiều thông tin … về người và nước họ Hùng …làm hỏng cả công cuộc ‘cạo sửa’ đổi trắng thay đen ‘ vĩ đại’ của vua quan Hán quốc .
An Nam chí lược có bài thơ Tóm lược 1 quãng sử Việt :
Thơ của Tư-Mã để đền thờ Phục-Ba :
Biển Nam ban lệnh Hán,
Rừng Uất đuổi binh Mường.
Đồng trụ chia biên-giới,
………….
Hoàng kim cống quân-vương.
Ý gian thần đã trải,
Lòng báo quốc ai thương.
Lam chướng đành trôi giạt,
Trung dũng một hòm xương.
Xin chia bài thơ thành 2 phần để luận xét .
Phần đầu bài thơ nói đến Mã Viện chôn cột đồng để phân ranh Giao chỉ – Hán quốc , cột đồng chôn ở Uất lâm nay thuộc Quảng tây thì rõ ràng Hán quân không hề chiếm được Giao chỉ .
Nhưng Phần sau bài thơ lại nói đến hòm xương Mã Viện tức Mã Viện – mặt ngựa chỉ huy Hán quân xâm lăng chiếm đóng và vơ vét của cải ở Giao châu đem về Tàu …chia chác không ‘hợp lí’ nên bị xử …
Phần trên và phần dưới đã lộ ra mâu tuẫn rõ rệt , có 1 Mã Viện không chiếm được Giao chỉ sao lại có 1 Mã Viện khác vơ vét châu báu ở Giao chỉ đóng thùng chở về Tàu ?.
Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ ra có 2 Mã Viện và 2 lần Hán quân đánh miền Giao chỉ .
Đi sâu tìm hiểu vấn đề :
Theo thông sử đang lưu hành …Năm 34 Hán Quang vũ đế cử Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ thay cho Tích Quang.
Tô Định thi hành chính sách cai trị và bóc lột rất tàn bạo đối với người Việt và đã giết chết Thi Sách chồng bà Trưng Trắc , Năm 39 Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị vì thù nhà nợ nước phất cờ khởi nghĩa chống Hán quân xâm lược , nhân dân các quận quanh Giao chỉ hưởng ứng nổi lên chiếm được 65 thành .
Năm 42 vua Quang Vũ nước Đông Hãn phong Mã Viện làm Phục ba tướng quân sang trấn áp cuộc nổi dậy ở Giao châu .
Sau 3 năm dựng nước …Đô kỳ đóng ở Mê linh – Lĩnh Nam riêng 1 triều đình nước ta …2 bà đền nợ nước , cuộc nổi dậy bị dập tắt , Mã Viện tiến hành việc chiếm đóng và cai trị :
- Bắt hơn 300 cừ súy Việt đem về giam ở Linh lăng
- Tịch thu Trống đồng nấu chảy đúc ngựa dâng cho vua Đông Hãn .
- Dựng cột đồng ở Khâm châu đánh dấu lãnh thổ cực nam nước Hán .
- Phân chia địa giới hành chánh vùng đất mới chiếm đặt thành quận huyện .
- Cai trị bằng luật Hán thay cho luật lệ cũ
Sau khi bình An Nam Mã Viện lo xa sợ sau này Hán quân phải xuống phương Nam dẹp giặc dài dài …để tránh bị …Lam sơn chướng khí vật đã cho chất đầy 5 xe hạt ‘Ý dĩ’ đặc sản trị bệnh ‘bất phục thủy thổ’ của người An nam đem về Tàu ….Tốt lành như thế mà có kẻ lại sàm tấu với đại Hãn Quang vũ đấy là 5 xe châu báu ngọc ngà mà Mã Viện đã vơ vét được ở An Nam ….Mã Viện không thể biện minh nên bị Quang vũ lột tất cả chức tước bổng lộc chết chôn nơi xó rừng như con chó ghẻ…
Thời Lịch sử đen tối của người họ Hùng được gọi ghém trong bài thơ đã dẫn :
Ở câu đầu tên gọi Biển Nam thì khỏi bàn vì biển của An Nam tất nhiên là biển Nam qúa đúng còn ý kiến gì nữa .
Câu 2 : Uất Lâm đuổi binh Mường … :
Rừng Uất tức Uất Lâm là 1 quận thời Đông Hán thuộc Giao chỉ Bộ nay là phần đất nằm ở phía nam Quảng Tây đây là danh từ riêng đúng ra thì nên giữ nguyên không nên ‘dịch’sang  Việt văn , rừng Uất khiến lạc nghĩa tưởng như có khu rừng tên là Uất , hơn nữa Lâm trong bài chưa chắc đã phải nghĩa là rừng có thể đấy chỉ là tam sao thất bản của Nam ↔lam↔lâm chỉ đất phía nam Giao chỉ – chỗ giữa mà thôi .
Từ ‘binh Mường’ chỉ ra có thể :
Thời đầu công nguyên người phía Tây Giao chỉ gọi là Mường phía Đông gọi là Kinh ; Kinh – Mường là biến âm của Kênh – Mương 2 từ đồng nghĩa chỉ địa hình của phương Nam – màu đen theo Dịch học , nói Mã diện đánh binh Mường của 2 bà Trưng cũng đúng và quân Mường của bà Triệu cũng không sai vì khởi nghĩa bà Triệu là thành phần khởi nghĩa ở Giao chỉ và Tây Nam Trung quốc trong tổng thể khởi nghĩa toàn Thiên hạ do 2 bà Trưng lãnh đạo , nói khác đi bà Triệu và anh là Triệu quốc Đạt là những bộ tướng của Trưng vương .
Câu thứ 3 của bài thơ là hết sức quan trọng khi nối ý với câu thứ 2 :
Ý tứ Qúa rõ không thể chối cãi …Mã Viện đuổi binh Mường ở Uất Lâm rồi cắm trụ đồng chia biên giới tất nhiên phải cắm ở ranh giới Uất Lâm và Giao chỉ tức Quảng Tây và Việt nam ngày nay .
Chính Lê Tắc viết : Trụ đồng Mã Viện chôn ở động Cổ Sâm , Khâm châu thuộc Quảng tây ngày nay , kết hợp điều này với lời nguyền …đồng trụ chiết Giao chỉ diệt có thể khẳng định thời 2 bà Trưng Mã Viện không hề chiếm được Giao chỉ mà ranh giới cực nam của Đông Hán dừng ở nam Quảng Tây .
Mâu thuẫn lịch sử bắt đầu từ đây : Không chiếm được Giao chỉ làm sao Mã viện có thể bắt ‘cừ súy’ thu Trống đồng và bình định phần đất này ?, kỳ lạ oái oăm là cả 2 phần trước và sau của bài thơ đều nói đến những sự việc có thực được chứng thực trong nhiều tư liệu lịch sử khác như :
Khoảng năm 1789, Vũ Huy Tấn được vua Quang Trung cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Trên đường đi gặp nơi dựng cột đồng, ông xúc cảm làm ra bài thơ:
Vọng đồng trụ cảm hoài
(Trông chỗ cột đồng, cảm xúc)
Dịch nghĩa:
Sáng sớm ra khỏi thành Minh Châu,
Tìm hỏi dấu tích cột đồng.
Người địa phương chỉ tay về phía xa,
Nơi hai đống đá xanh xanh!
Than ôi! Cột đồng kia!
Là đất cũ của nước ta!
Từ thời Trưng Vương buổi trước,
Phục Ba đã vạch làm biên giới.
Bậc phấn son thật cũng anh hùng.
Muôn đời tiếng tăm còn vang dội.
Đáng thương tên gian phu nhúng tay vào vạc,
Cắt đất dâng đi chẳng đoái tiếc gì.
Bờ cõi xưa vì thế luân lạc đi mất,
Đến nay đã hàng mấy trăm năm
Khói mù cộng với thời gian,
Cảm khái việc xưa nay biết dường nào!
Bên này có núi Phân Mao,
Trời đã làm cho phần Bắc phần Nam bị chia tách.
Chia đã lâu rồi cần hợp lại,
Vết tích lạ này há lại bỏ không
Tác gỉa bài thơ đầy súc động này đã chỉ Rõ … trụ đồng chôn ở núi Phân mao là sự thật lịch sử …
Lê Tắc khi soạn An Nam chí lược (khoảng đầu thế kỷ XIV) cũng viết :
“Xưa có truyền lại rằng: Ở nơi động Cổ Sum, tại Khâm Châu có cái cột đồng của Mã Viện và lời thề rằng: “Hễ cái trụ cột đồng này gãy, thì nước Giao Chỉ diệt”, vì thế, người Giao Chỉ mỗi khi đi ngang qua đều lấy đá, ngói, ném vào dưới chân cột đồng, nên chẳng bao lâu, nơi ấy hóa thành gò…”
Nhà bác học Lê Quí Đôn trong “Vân Đài Loại ngữ” đã viết: “Gọi là phân mao cỏ rẽ vì núi cỏ mọc rẽ làm hai, phía Tây Phân Mao lĩnh là Khâm Châu (Trung Quốc), lưng chừng có cột đồng trụ lớn hơn 2 thước. Có lẽ là cột đồng do Mã Thống đời Đường dựng mà tương truyền đây là cột trụ đồng của Mã Viện”.
Nhưng rồi lại cũng chính Lê Tắc viết : Phân sơn (tức phân mao sơn) là dãy núi Việt nam – chiêm thành dùng làm ranh giới …Mâu thuẫn nằm ngay trong bản thân Lê Tắc …làm sao chỉ 1 cột đồng lại có thể ở 2 nơi ? .
Hiện nay đang có nhiều tư liệu chép … cột đồng chôn ở cổ Sâm cực nam Quảng Tây nhưng đồng thời cũng có sách chép cột đồng chôn ở ranh giới Giao chỉ và Lâm ấp đưa đến hình thành 2 trường phái ‘cột đồng’ trong giới sử học ta và Tàu .
Từ điển Từ Hải (Trung Quốc) xác định rõ nơi dựng cột, đó là núi Phân Mao ở động Cổ Sâm. Theo Gia Khánh trùng tu nhất thống chí đời vua Gia Khánh nhà Minh, núi Phân Mao ở về phía tây Khâm Châu. Năm 1540, Mạc Đăng Dung cắt đất hiến cho nhà Minh nên từ đấy núi Phân Mao thuộc về đồ bản nhà Minh đấy chính là tên gian phu nhúng tay vào vạc, Cắt đất dâng đi chẳng đoái tiếc gì…trong bài thơ Vọng đồng trụ cảm hoài trên .
Sách Đại Minh nhất thống chí đời Minh khẳng định : Cột đồng dựng ở động Cổ Lâu thuộc Khâm Châu, (nói) cột đồng Mã Viện dựng trên đất Giao Chỉ là chuyện hão huyền.
Từng đấy điều đã qúa đủ để xác quyết việc Mã Viện chôn cột đồng ở núi Phân mao là sự thật .
Kết luận của sách Đại Minh nhất thống chí hoàn toàn chính xác , Phái cột đồng Chiêm thành mắc sai lầm lớn khi chăm bẳm vào sự chỉ định : Lâm ấp là tiền thân Chiêm thành ở Trung bộ Việt nam . Thực ra Không có nước nào tên là Lâm ấp , chỉ có nước Nam với thủ đô nước Nam là đại ấp Nam , gọi tắt là Nam ấp rồi người Tàu …ấm ớ thành ra Lâm ấp chẳng nghĩa ngọn gì , bằng chứng là Kinh đô nhà Tống khi dời về phía Nam cũng được gọi là Lâm ấp tức Nam ấp.
Khu linh dấy binh ở Tượng Lâm tức Tây – Nam Trung quốc nay là miền Vân nam – Quảng Tây , vì thế mới có chuyện Theo “Man thư” đời Đường thì vị trí của cột đồng Mã Viện tại huyện An Ninh tỉnh Vân Nam trong khi Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời Tống chép cột đồng đặt tại động Cổ Sâm thuộc Khâm châu Quảng Tây .
Thiên nam ngữ lục viết …
Khi linh người nước Nam ta …
…bèn vào tượng quận dấy binh …
Khu linh người nước Nam thì khi dân chúng tôn Khu linh làm vua nếu không là vua nước Nam thì là nước gì ?, lại có sách “Khâm Định Việt sử” của triều Nguyễn chép rõ là: “Lâm Ấp xưa thuộc nước Việt Thường, trải qua thời kỳ Tần xâm lược thì có tên là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận là phần đất giữa Vân Nam, Quí Châu và Quảng Tây. Đất này chính là quận Tường Kha đời Hán . Nước Nam thủ đô là Lâm ấp khởi lập từ thời Khu Linh là miền Tượng Lâm không phải Lâm ấp ở miền Trung Việt nam của dòng Phạm Hùng con cháu bên mẹ Khu Liên.
Truyện Nam chiếu trong Lĩnh Nam trích quái có nói đến giải đất mà nước Tây bà Gia chia cho Triệu ông Lý và Nam Chiếu tức Nam chúa trải từ Qúy châu đến Diễn châu Nghệ an dài đến Trung Việt , đấy chính là Lâm ấp của Khu Liên ,nơi có Trụ đồng Mã Viện chia ranh Giao chỉ và Lâm ấp . Nước Tấn đã chiếm phần lớn đất đai Lâm ấp vì thế Phạm Hùng con cháu bên mẹ Khu Liên chỉ còn lại phần Lâm Ấp ở vùng Trung bộ Việt nam như ngày nay .
Vì không rõ điều này mà 2 trường phái ‘cột đồng’ mãi vẫn mãi tranh cãi …
Trở lại bài Thơ của Tư-Mã để đền thờ Phục-Ba nếu không chiếm Giao chỉ thì Mã viện vơ vét châu báu ngọc ngà của ai – ở đâu để phải thành thân tàn ma dại ?, cũng như sự kiện chôn cột đồng việc Mã Viện chở 5 xe hạt Ý dĩ về tàu được nhiều sách vở nói đến nên không thể không có .
Mâu thuẫn này được Sử thuyết Hùng Việt lý giải….có 2 Mã Viện và 2 cuộc Hán quân tiến đánh Giao châu .
Có tư liệu viết Mã Viện hiệu là Mã văn Uyên mà văn uyên thiết viên – viện như thế mã viện không phải là họ tên mà chỉ là danh hiệu biến âm từ mã diện tức mặt ngựa , Trâu và ngựa do tính thuận tòng theo chủ nên được Dịch học dùng làm con vật tiêu biểu cho Huyền thiên – phương Nam xưa (nay là Bắc) , người Giao châu gọi đám quân binh kéo từ hướng Huyền thiên xuống là đám ‘đầu trâu- mặt ngựa’, chỉ huy đám quân ấy gọi là mặt ngượa – mã diện , mã diện được biến cải thành Mã Viện …như thế không chỉ một mà có thể có nhiều mã viện trong lịch sử.
Phần đầu bài thơ nói đến cột đồng phân ranh Giao chỉ – Hán quốc là Mã Viện sau ., là Mã Viện kéo quân đàn áp cuộc nổi dậy của dân chung do bà Trưng bà Triệu lãnh đạo .
Phần sau bài thơ nói đến hòm xương Mã Viện là Mã viện trước , MãViện – mặt ngựa chỉ huy Hán quân xâm lăng chiếm đóng và vơ vét của cải ở Giao châu đem về Tàu .
Điếm qua sơ lược tình thế Thiên hạ hậu Xích My .
Quan vũ chúa Đông Hãn quốc sau khi diệt Xích My đóng đô ở Lạc dương lãnh thổ là miền Thiểm Tây Sơn tây Hà Bắc.
Phần còn lại của Thiên hạ bị cát cứ :



1 . Lưu Vĩnh là tôn thất nhà Hán, cháu 8 đời dòng trưởng của Lương Hiếu vương – con Hán Văn Đế, chiếm cứ 20 thành ở Sơn Đông, Giang Tô, Hà Nam, An Huy; tự xưng là thiên tử nối ngôi nhà Hán .

2 – Trương Bộ ở Lang Nha, giữ 12 quận ở miền trung Sơn Đông, liên minh với Lưu Vĩnh, xưng là Tề Vương .

3 – Đổng Hiến (Hân) chiếm Thanh Đàm ở đông nam Sơn Đông, cũng liên minh với Lưu Vĩnh, tự xưng là Hải Tây vương .

4 -. Lý Hiến chiếm Lư Giang phía đông nam , tự xưng Hoài Nam vương .

5 -. Tần Phong chiếm Kinh châu ở phía nam, tự xưng là Sở Lê Vương .

6 . Công Tôn Thuật giữ đất Thục , xưng là Bạch đế nghĩa là vua phía tây .

Riêng ở Giao châu thì Giao châu mục Đặng Nhượng và thái thú Giao Chỉ Tích Quang chỉ lo giữ yên châu quận không xưng đế xưng vương gì cả nên sử gọi là “Sĩ Nhiếp” tức kẻ sĩ nhiếp chính nghĩa là người có học nắm quyền quản trị .
Mốc thời gian tiến chiếm phương Nam của Hán quân đáng lưu ý :
Như đã viết trong 1 bài viết Trước :
Năm 35 quân Đông Hãn đánh đất Thục của Bạch đế , Hậu Hán thư tiết lộ vào thời điểm này :
- người Việt giúp nước Thục của Bạch đế chống lại Đông Hán .
- rõ ràng còn lực lượng quân sự gọi là quân Việt .
- dân Việt vẫn do các ‘cừ súy’ lãnh đạo .
Sau khi ‘xử’ xong vùng chung quanh đất gốc Đông hãn quốc là Hà bắc – Hà nam Sơn tây – Thiểm tây , Lưu tú rảnh rang với tay tới những vùng xa hơn .
Hán sử cũng ghi rõ là năm 41, Mã Viện ra quân hơn vạn người đánh diệt Duy Dĩ ở Hồ Nam và Lý Quảng ở Hoãn Thành tỉnh An Huy TQ bây giờ . Mãi đến năm 42, Mã Viện mới được phong là Phục Ba tướng quân đem hơn vạn quân (qúa nhỏ ?) tiến chiếm Giao châu .
Thời điểm Lưu tú tung quân đánh chiếm Giao châu hoàn toàn hợp lý xét trong thứ tự thời gian và tính toán bước đi .
Khi Mã Viện đánh Giao chỉ thì ở đấy vẫn còn luật Việt mà luật ấy khác luật Hán 10 điều , dân Việt vẫn do các ‘ cừ súy’ lãnh đạo (cừ súy thiết qúy chỉ qúy tộc Lạc Việt ) Mã Viện đã bắt hơn 300 cừ súy đem về Linh lăng , ở Giao chỉ người ta vẫn dùng trống đồng để tỏ rõ quyền uy và tế tự tổ tiên …,Những điều trên và tổng hợp thông tin trước đó chứng tỏ trước khi Mã Viện đến ; xã hội Lạc Việt vẫn sinh hoạt theo truyền thống cha ông chưa hề là nô lệ ngoại bang , chính Mã viện mới là kẻ tròng sợi dây thừng trói buộc vào cổ dân Giao chỉ , lưu đày các cừ súy phá bỏ cấu trúc xã hội Lạc Việt ,hủy hoại phần văn minh vật thể lẫn phi vật thể của người họ Hùng tóm lại là Mã Viện thực hiện cưỡng bức Hán hóa người Giao chỉ 1 cách thô bạo và triệt để .
Xét tới đây thì việc năm 34 Tô Định được cử sang làm thái thú Giao chỉ thay Tích Quang chỉ có thể có trong trí tưởng tượng …Năm 39 dân Giao chỉ chưa nô lệ ai thì làm gì có khởi nghĩa Hai bà Trưng chống quân xâm lược ? nên cuộc tấn công Giao chỉ của Mã Viện năm 42 là tiến chiếm phần đất chưa hề thuộc Hán đang do Sĩ Nhiếp tạm quản , nói cụ thể Sĩ Nhiếp là danh hiệu lịch sử gọi Thứ sử Đặng Nhượng và thái thú Tích Quang …những người được sử Việt gọi là Sĩ vương dù họ không hề xưng vương xưng tướng gì cả . Mã Viện thời lịch sử trước rất có thể là Sầm Bành , tên tướng Hán mà sử Tàu viết ….đã có công chiêu dụ Đặng Nhượng Tích Quang đem đất nạp cho Quang Vũ đổi lấy tước Hầu …
Về Mã Viện sau …Sử thuyết Hùng Việt cho chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị chính là anh em Trương Giác thủ lãnh khởi nghĩa Hoàng cân trong sử Trung hoa .Bà Trưng là thủ lãnh của toàn bộ cuộc nổi dậy Khăn vàng trong khắp cả nước còn bà Triệu và anh là Triệu quốc Đạt tức Đạt vương (tam sao thất bổn thành) Đô dương lãnh đạo khởi nghĩa ở Giao châu và miền Tây Nam Trung hoa . Tuy cả Bà Triệu và Đô Dương đều chết dưới tay Mã Viện nhưng chính Đạo quân này đã cầm chân Hán quân buộc phải cắm mốc phân ranh 2 nước Hán- Trưng ở núi Phân mao , động Cổ Sâm nay thuộc Quảng Tây , nước Trưng của người họ Hùng trên đất Giao chỉ chính là nền móng của thời Trung hoa huy hoàng :Việt Tủy -Tùy và Việt Thường – Đường .
Truyền nhân duy nhất còn lại của dân nước Trưng chính là người Việt Nam ngày nay .

    Hôm nay: 24/10/2017, 2:26 pm