Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


October 2017

MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     

Calendar Calendar

Khách thăm







Chung quanh truyện Nam Chiếu .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 759
Join date : 31/01/2008

Chung quanh truyện Nam Chiếu .

Bài gửi by Admin on 11/7/2012, 1:10 pm

 Chung quanh truyện Nam Chiếu .

Trích tộc phả họ Phạm Việt nam :
"Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766).
………………………
Đối chiếu với thông tin trong sử sách chỉnh sửa thành :
"Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Thanh Ngệ Tĩnh ) và Trung châu (Bình Trị Thiên ) gọi là xứ Lâm ấp - tức Trung bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Hiếu -Tây Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà - Nam Hời (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hiếu - Tây Hán chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương lập nước Nam – kinh đô là Lâm ấp vua đầu là Lý khu Kiên sử Việt gọi là Lý Nam đế . Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa - Vijaya ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng ngày nay). Đến đời vua Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa , vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua tổ họ Phạm (chính là 18 Hùng vương ) , khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh (Sri Vijaya – Qua oa ) về hợp cùng Mai Thúc Loan tức Mai Hắc đế (766) chống lại quân nhà Đường , về sau Phùng Hưng con của Phùng Tói Cái trước là tướng của Mai Hắc đế đánh lui quan quân nhà Đường phục hưng nước Nam , Phùng Hưng được tôn là Bố Cái Đại vương (Pi lô cô- Bì la Cáp) chúa nước Nam hay Nam chúa viết sai đi thành Nam Chiếu .
Lấy phần Tộc phả họ Phạm đã chỉnh sửa và chính sử Việt đối chiếu với truyện Nam Chiếu – Lĩnh nam trích quái nhận ra :
Thông tin trong truyện Nam Chiếu là những dòng sử bị bỏ sót của lịch sử Việt nam .
2 chữ Nam triệu và Nam Chiếu  tạo thành xương sống của câu chuyện có chiều dài thời gian sấp xỉ 1200 năm  , nhưng phân rõ thành 2 thời kỳ lịch sử .

·        Thời Nam chiếu (triệu – chúa)  nghĩa là chúa nước Nam .

· Thời Nam chiếu (Chiêu – Châu)  chỉ  triều đại Nam Châu của Trung Hoa tức nhấn mạnh đây là triều tiếp nối quốc thống nhà Châu .
- Nam Việt vũ – Triệu Đà ; Triệu không phải họ mà là biến âm của Chậu – Chiếu –chuá , chuá Nam Việt gọi tắt là Nam chúa .
- Lý Nam đế (hậu) Lý Bí ; Nam đế là vua nước Nam cũng là Nam chiếu -Nam chúa .
- Mai Hắc đế , Hắc là màu đen sắc của phương nam tương tự Huyền thiên , Mai hắc đế là ông vua nước Nam họ Mai hay My .
- cuối cùng là Phùng Hưng –Bố cái đại vương là vua sáng lập triều đại Nam Châu tiếp nối quốc thống nhà Châu sau các thời  Tây Châu – Đông Châu – Bắc Châu ; câu đối nơi đền thờ ....Phong thành phủ lỵ thái Nam bang ...chỉ ra nơi đóng đô là Phong thành , nước là nước Nam (Châu) .
Đặc biệt Khu Liên được dân chúng tôn làm vua nước Lâm Ấp năm 192 , Thực ra không có nước Lâm Ấp , Lâm ấp là lối viết tắt của đại ấp Lâm nghĩa là thủ đô nước Lâm- nước Nam , Nam →Lam→Lâm ... rõ ràng Khu Liên là Nam triệu – Nam chúa , Khu Liên trong tộc phả họ Phạm biến thành Lý khu Kiên (Khu Liên thiết Kiên) ..., có nhà nghiên cứu nghi ngờ khu Liên không phải là nhân vật mà là tộc danh vì năm 137 cũng đã có 1 cuộc nổi loạn của Khu Liên ...không lẽ 2 cuộc binh biến cách nhau 55 năm cùng do 1 người cầm đầu ?, Thiên Nam ngữ lục làm sáng tỏ thêm vấn đề với câu ...Khu Linh người nước Nam ta ..; đầu tiên câu thơ này đã minh định nước ta tức nước của tiền nhân người Việt nam xưa tên là nước Nam , thông tin thứ 2 quan trọng không kém ....không phải là ‘Khu Liên’ mà là ‘Khu Linh’ , Khu Linh thiết Kinh ...phải chăng đây chính là tên của tộc người đa số đã tạo nên cộng đồng người nước Nam tức dân Nam ? .
Khu Linh thiết Kinh ; từ Kinh nghĩa là gì ?
-Kinh cũng là Canh chỉ hướng ngược với La , La – Canh là 2 đầu của La bàn còn gọi là kim chỉ Nam dùng xác định phương hướng như thế La - Canh đồng nghĩa với Bắc – Nam , Kim chỉ Nam 1 trong những phát minh lớn lao đã làm thay đổi lịch sử nhân loại .
-Kinh – Canh là sợi dệt ngang dùng chỉ đường kẻ ngang – trục nằm nói chung đối phản với Tung – tưng –tâng chỉ đường thẳng đứng- trục đứng , Canh ↔cánh ↔cành ....ngang cành bứa ...(Canh =hoành) , trong Thập can thì can canh là số 6 đối lập với can Tân –tưng là số 7, chu kỳ Thập can là đi hết 1 vòng trở về trung tâm là số 5 ở giữa Hà thư ; Canh và Tân bắt đầu cho vòng sau vì thế ta có từ kép ‘Canh-Tân’ nghĩa là đổi mới ...
-Kinh – Canh nghĩa là cô đặc lại ; là ý niệm cơ bản của âm – dương ...phần khí nhẹ bốc lên thành trời ...phần nặng chìm xuống cô –đặc lại thành ra đất ...
Xét như thế thì Thiên Nam ngữ lục đã trực tiếp chỉ ra ...tộc Kinh đã tạo nên nước Nam .
Chuyện Nam triệu - Nam Chiếu chưa đầy trang giấy mà gói trọn 1200 năm lịch sử người họ Hùng thực là 1 tuyệt phẩm về lịch sử chỉ tại xưa nay người ta chưa nhìn thấu , chưa nắm bắt được vấn đề do lượng tin chứa trong vài hàng chữ ...vớ vẩn lớn qúa sức tưởng tượng nên đã có người cho ‘Lĩnh Nam trích quái’ là chuyện ... trâu ma rắn thần .. .
Cạnh chữ Việt , chữ Nam đã gắn bó với con cháu nhà Hùng từ thời thượng cổ ,không phải chỉ có hơn ngàn năm ngự trị của Nam chúa viết ở truyện Nam chiếu – Lĩnh Nam trích qúai mà từ thời Đế Nghiêu đã ....mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao , tới thời Lý ở cận kim thời đại còn viết ...Nam quốc sơn hà Nam đế cư ..., thời Nguyễn đã có những năm tháng chữ NAM độc quyền trong quốc hiệu của con cháu nhà Hùng ( nước Đại Nam thời vua Minh Mạng ).
Có người cho quốc hiệu Việt nam ngày nay là ghép từ 2 thành phần An Nam – Việt Thường mà thành ... điều này không ổn vì tự thân người Việt chưa bao giờ nhận mình là An Nam , đấy là cái tên do vua quan con nhà ‘giời’ đặt ra chỉ 1 cộng đồng người mà họ tự cho là chư hầu của họ , thậm chí ‘nó’ có thể chỉ là sản phẩm do bọn bồi bút gia nô dốt nát tưởng tượng ra rồi chép vào sử ...vì An Nam quốc gốc là An Nam đô hộ phủ với chữ An là vỗ yên , làm cho yên ổn ...thì cụm từ ‘An Nam quốc’ thành ra chẳng nghĩa ngọn gì , sử liệu Trung quốc trước nhà Tống từng có chúa Chăm được phong là An Nam tướng quân Lâm Ấp vương chứ không hề có An Nam quốc vương .

Truyện Nam chiếu gói ghém thông tin lịch sử ngàn năm qúa sức dài , diễn tiến trước sau dựa vào phân kỳ lịch sử Trung quốc mà danh xưng các triều đại Trung quốc thì đầy những cái bẫy chữ nghĩa , Hán thì nào Tây Hán Đông Hán Bắc hán Nam Hán rồi hậu Hán , Hán triệu ...lu bù Hán ; Tấn cũng tương tự thế ...có cả đống Tấn , xin lưu ý những chữ nam bắc tây đông tiền hậu đều là do đời sau viết sử tự ý thêm vào chứ bản thân các triều đại ấy chỉ có mỗi chữ Hán hay Tấn trần trụi ...như thế hỏi làm sao tránh khỏi lầm lẫn ...râu ông này cắm cằm bà kia ...chính việc ‘cắm lộn’ râu này đã khiến truyện trong sách lĩnh Nam trích qúai trở nên ...trâu ma rắn thần ...vì khi đối chiếu với những tư liệu lịch sử khác ...thấy chẳng ra đâu vào với đâu ...
Nếu bình tâm Phân tích và hiệu chỉnh truyện Nam Chiếu ... vẫn có thể lắng lọc tìm được những Thông tin qúy gía của lịch sử Việt .
Thời Hiếu Vũ Đế, Thừa tướng của Triệu Đà là Lữ Gia không thần phục nhà Hiếu, giết sứ Hán là bọn An Quốc và Thiếu Quý. Hiếu Vũ sai Lộ Bác Đức và Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt được Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính cả nước , phân đất đặt quan cai trị.
Họ Triệu mất nước, con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau hội họp nhau ở phía Tây và Bắc Giao chỉ giết các quan lệnh cai trị của nước Đông hãn , xưng là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu , Triệu là chúa nhưng Chiếu biến âm của Châu  là danh từ riêng tên 1trong tam đại Trung hoa  ; Nam Triệu và Nam Chiếu – Nan Chao là 2 thời kỳ lịch sử khác nhau .


Cuối đời nước Đông hãn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý tức Lý Bí cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu ( đoạn văn này chỉ rất rõ : quân của Triệu ông Lý là quân Nam triệu hợp lại với quân Nam Chiếu ), được hơn hai vạn người,bèn xưng đế lập nước NAM , kinh đô là Lâm ấp có đất đai phía đông tới biển ,phía tây tới Ba Thục ,phía nam giáp nước Bà Dạ,phía bắc giáp Cửu Chân , Triệu ông Lý – Lý Bí xưng là Lý Nam đế nghĩa là vua nước Nam .


 


Nhà Tấn sai tướng là Tư Mã ...? ( Tư mã là họ của vua nhà Tấn) đem quân sang đánh ; Nam Chiếu thua to chạy về đất Ai lao gọi là nước Đầu Mô (Đoài hoàng – Mai quốc ?) . Quân Nam Chiếu lùi về phía nam ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới các vùng Hà Hoa, Cao Hoàng, Hoành Sơn, Ô Đặc, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Đổ, Vọng Án và Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân nhà Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về không chiếm được đất phía Nam của Nam chúa .
Đời Tam Quốc, Tôn Quyền nhà Ngô sai Đái Lương, Lữ Đại đánh diệt anh em Sĩ Huy phong họ làm Thái Thú Giao chỉ để đánh dẹp Nam Chiếu (triệu) cũng không thể đánh nổi .

 
Dựa vào đoạn văn lĩnh Nam trích  quái  trên thì rõ ràng có 2 Nam Chiếu ; 1 trước và 1 sau .
Nam chiếu 1 có từ thời Hán tức trước thời Tam quốc .
Nam Chiếu sau xảy ra vào thời Ngũ đại , cụ thể là thời nhà hậu Tấn của sử Tàu .?
Lĩnh Nam trích quái đã trộn lộn thông tin 2 Nam Chiếu ; trước từ thời Hán sau ở đời Đường (theo theo sử hiện nay) vào thành 1 khiến  chuyện trở nên hỗn loạn không tài nào hiểu nổi .
 
Xin tiếp tục với Nam Chiếu đời sau... :
Đời Tùy tướng Lưu Phương tiến quân chiếm mất phần đất bờ biển của Nam Chiếu (triệu) nay là Thanh Nghệ tĩnh .
Sang đời Đường Nam Chiếu (triệu) thần phục nhà Đường cả 1 giải đất Tây và Bắc Giao chỉ được tự trị gọi là châu KI Mi hay CƠ MY.
Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường. Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện

Lộc, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen sì, sức vóc khỏe mạnh, thấy quan nhà Đường làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giã,ông ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở đất Hoan Châu (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An) rồi xây thành đắp lũy, xưng hoàng đế, tục gọi là Hắc Đế”.
Hắc đế tức Nam Chúa – Nam triệu (Hắc – màu đen chỉ phương Nam theo Dịch học nay lộn ngược thành phương Bắc) đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ (Chân Lạp hay Sri vijaya ?), xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển. Khi ấy nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Cầm (Kiềm) châu dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Lâm An (?) giao cho Mai Hắc đế ., từ Hoan Châu (Hà Tĩnh hay Quảng Bình ?) đổ về phía nam gọi là lộ Già la hay vijaya còn gọi là Chàm Dừa, trung tâm là vùng Bình định ngày nay .
Lộ Già la – Vijaya - Chàm Dừa được  sử Trung quốc gọi là nước Lâm Ấp giai đoạn sau  hợp nhất với Chàm Cau  Cau ở vùng Khánh hoà ngày nay , năm 757 trung tâm chính trị ‘Dừa – Cau’ chuyển về đất Khánh hoà thuộc Chàm Cau từ đó gọi là nước Hoàn vương , năm 875 đổi thành nước Chiêm thành – Chămpa .
Sử sách Trung Quốc cũng ghi chép về liên minh quân sự này: “An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dân chúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn” (Tân Đường thư).
Sau nhà Đường cho quân đánh Mai hắc đế , Mai hắc đế chống không nổi thua chạy.. . lui quân về xứ Bồn Man xưng là Đầu hoành Mô quốc Bồn Mang ...
Khoảng niên hiệu Đại Lịch 791 (VNSL), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm phẫn của nhân dân, Phùng Hưng và em là Phùng Hải đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền nhà Đường.
Phùng Hưng nghĩa là người đất Phong tên gọi là Hưng ...hoặc giả cũng có thể là danh hiệu chỉ người đã làm hưng khởi đất Phong ...chứ không phải họ và tên , Theo Sử thì Phùng Hưng về sau được xưng tụng là ‘Bố cái’ đại vương đặt tên nước là nước Nam (Châu) như trong câu đối ở đền thờ ông ....Phong thành phủ lỵ thái Nam bang



Việt nam sử lược viết :
Ở phía Tây Bắc đất Giao Châu, tức là ở phía Tây tỉnh Vân Nam bây một xứ người nòi Thái ở. Người xứ ấy gọi vua là chiếu. Trước có 6 chiếu là Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá. Chiếu Mông Xá ở về phía Nam nên gọi là Nam Chiếu , đây là sai lầm lớn của sử gia Trần trọng Kim Mông Xá không ở cực nam địa bàn 6 chiếu và bản thân từ chiếu – triệu nghĩa là  chúa- chủ  cũng không phải là tên nước (cùng 1 chữ chiếu nhưng chiếu – triệu- chúa hoàn toàn khác nghĩa với Chiếu – Chiêu - Châu ) ; ở đây chính xác phải hiểu là đất đai của 6 chiếu – chúa hợp thành lãnh thổ nước  Nam Châu – Nan Chao , Nam Châu là triều đại tiếp nối quốc thống nhà Châu sau các tiền triều : Tây – Đông - Bắc Châu của Vũ văn Giác và rất có thể là cả triều Võ Châu của nữ hoàng Võ tắc Thiên , riêng 2 triều Châu thời sau là Hậu Châu của Quách Uy tiền triều của nhà Tống và Đại Châu của Ngô tam Quế  thì …khó có thể xem là hậu thân của nhà Châu Trung hoa .
Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi.
Bì La Cáp mới đút lót cho quan Tiết Độ Sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó nước Nam Chiếu (Châu) càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng) rồi dời đô lên đóng ở thành Thái Hòa (thành Đại Lý bây giờ).
Nhưng theo nhà nghiên cứu Bách Việt 18 :.........Sách Lịch sử Thái Lan chép (Wyatt, David K.):
Năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Bì La Các cầu Đường trợ giúp đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lãng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lãng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Hề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Nhà Đường phong cho Bì La Các làm Vân Nam Vương, ban danh là Mông Quy Nghĩa. Bì La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Hòa (tức thành cổ Đại Lý ngày nay).
Khun Borom được các sử gia Thái Lào xác định là vua Bì La Các (Piloko), người khởi đầu nước Nam Chiếu (châu) vào đầu thế kỷ 8 dưới triều Đường. Bì La (Pilo) thiết Bố. Bì Lô Các cũng là Bố Cái. Như vậy có thể thấy Khun Borom của người Lào Thái chính là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng của Việt Nam, người đã khởi nghĩa chống nhà Đường vào thế kỷ 8:
Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu
Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang.
Niên hiệu của Khun Borom – Bố Cái được câu đối trên chép là Thuận Đức, đóng đô tại Phong Thành, lập nước là Nam Bang   , Có thể thấy Phong thành đây chính là Mường Then – Điện Biên, nằm ngay cạnh tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào. Nam Bang là nước phía Nam hay Nan Chao (theo tiếng Thái nghĩa là nước của người phương Nam). Nan Chao là Nam Chiếu.

..............
Truyện Nam triệu – Nam Châu chính là dòng sử liên tục sấp sỉ 1200 năm Khởi từ thời Triệu Đà hay Chúa Đầu dựng nước Nam Việt truyền cho tới Phùng Hưng – Bì la Cáp xưng vương , niên hiệu Thuận Đức quốc hiệu Nam Châu đã không được thể hiện đầy đủ trong lịch sử Việt nam đây là sự thiếu sót vô cùng lớn .
Nước Việt nam ngày nay không chỉ kế thừa lịch sử nước Đại Việt mà còn kế thừa cả lịch sử nước Nam Châu oai hùng từng 1 thời thống nhất Đông nam Á lục địa . ; Rất có thể quốc hiệu “Việt – Nam” hiện nay chính là viết tắt của cụm từ ghép “Đại Việt – Nam Châu”.


    Hôm nay: 22/10/2017, 6:48 pm