Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


November 2017

MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   

Calendar Calendar

Khách thăm







Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 764
Join date : 31/01/2008

Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây .

Bài gửi by Admin on 14/5/2012, 12:31 pm

Trong ước ao tìm đến nguồn cội và xác định chỗ đứng của văn minh dòng giống Việt trong tiến trình văn minh nhân loại , xin tác gỉa và Blog Địa khởi cho phép đăng lại bài viết làm tư liệu tham khảo cho bạn đọc .

Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây .

Việt tử .Nguồn : http://diakhoi.blogspot.com/2012/04/chu-nguoi-lac-viet-o-quang-tay.html

I-Dẫn Nhập :

Cổ sử Tàu chép nước Việt Thường dâng cho vua Đế Nghiêu (2358 TCN) con rùa 1.000 năm trên mai có khắc chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) kể sự việc từ khi khai thiên lập địa trở về sau. Người Tàu không bao giờ cho biết hình dáng của chữ viết đó ra sao cả(?). Trái lại, họ quả quyết là tổ tiên của dân tộc thiểu số Tráng ở Trung Quốc là người Lạc Việt không có chữ viết! Một số trí thức Việt Nam tin chắc rằng người Việt có chữ viết riêng trước khi người Tàu xâm lăng nước ta. Nhưng họ không có bằng chứng thuyết phục

Ngày 26 tháng 12 năm 2011, Lí Nhĩ Chân cho biết Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt-tỉnh Quảng Tây phát hiện hơn một nghìn tự phì biểu ý của người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây và cho rằng người Lạc Việt cổ đã sáng tạo chữ viết bốn nghìn năm trước (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Sự phát hiện chữ Lạc Việt kỳ này sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc vì văn hóa Lạc Việt là một trong những yếu tố trọng đại ở Trung Quốc.


II- Chữ Viết Người Lạc Việt ở Quảng Tây :




Lý Nhĩ Chân thuộc Hội Nghiên cứu Văn hóa Lạc Việt tại Quảng Tây Trung Quốc thông báo chữ cổ Lạc Việt được phát hiện ở huyện Bình Quả tỉnh Quảng Tây ngày 22 tháng 12 năm 2011. Chữ cổ này tại di chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang, thị trấn Mã Đầu huyện Bình Quả tỉnh Quảng Tây, được khắc trên mấy chục khối mảnh vở xẻng đá lớn. Ngoài ra, Hội Nghiên Cứu cũng phát hiện phù hiệu và bản vẻ của người Lạc Việt cổ ở núi Đại Minh tỉnh Quảng Tây. Quán trưởng Bác vật quán Quảng Tây, Chủ nhiệm Ủy viên Giám định Văn vật quán Quảng Tây, Tưởng Đình Du cho rằng phù hiệu và bản vẻ là phù hiệu khắc vẻ cúng tế của người Lạc Việt cổ thời đại đồ đá mới. Bộ môn khảo cổ uy tín của nhà nước giám định niên đại chữ viết này vào thời đại văn hóa xẻng đá lớn (4.000-6.000 trước Công Nguyên). Chữ viết của người Lạc Việt sớm hơn chữ giáp cốt nhà Thương ở Trung Nguyên hơn 1.000 năm, cũng có niên đại sớm hơn so với tiền thân cuả chữ giáp cốt là chữ viết trên xương thú của người Đông Di ở tỉnh Sơn Đông và có nguồn gốc sâu xa với chữ viết của người Thủy, di duệ Việt tộc với 250.000 người ở Quý Châu.

Hội Nghiên Cứu Văn Hóa Lạc Việt Quảng Tây viết : “Người Lạc Việt ở Trung Quốc đã sáng tạo chữ viết vào bốn nghìn năm trước, phá bỏ quan niệm là tổ tiên của dân tộc Tráng là Lạc Việt không có chữ viết. Phát hiện chữ viết của người Lạc Việt lần này sẻ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, văn hóa Lạc Việt là một trong những nguồn gốc trọng yếu cuả Trung Hoa.

Trước thời điểm này, giới sử học Trung Quốc đều cho rằng tổ tiên của dân tộc Tráng không có chữ viết. Hội trưởng Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt Tạ Thọ Cầu giới thiệu chuyên gia của Hội nghiên cúu đã thu thập một số lượng lớn chứng cớ chứng thực người Lạc Việt cổ sáng tạo chữ viết biểu ý vào bốn nghìn năm trước. Chữ viết Lạc Việt này có mầm móng vào thời đầu của thời đại đồ đá mới, hình thành vào thời kỳ đỉnh cao của “văn hóa xẻng đá lớn” (4.000-6.000 năm trước) và chắc chắn có nguồn gốc sâu xa với chữ giáp cốt cổ cùng chữ Thủy của dân tộc Thủy





Hình 1a : Phiến đá có chữ người Lạc Việt ở huyện Bình Quả tỉnh Quảng Tây






Hình 1b : Sơ đồ hình 1a phiến đá có chữ người Lạc Việt
(a=chữ Mộc; b=chữ Sĩ; c=chữ Xuất; d=chữ Chấp; e=chữ Công)


Phiá trên ngón tay cái cầm phiến đá có khắc các chữ sau đây :

a =Chữ Mộc (cây) giống cặp chữ hàng thứ 4 trên cái qua đồng Đông Sơn với niên đại 2000 trước Công Nguyên mà Hà Văn Tấn cho là chữ viết của người Lạc Việt (Hình 3).
b = Chữ Sĩ giống chữ viết trên hai chiếc đĩa gốm nhỏ Madelaine Colani tìm được ở vùng văn hóa Hòa Bình Việt Nam năm 1923 (Hình 2) với niên đại 8.000 trước Công Nguyên..
c = Xuất (đi ra).
d = Chấp (hai mươi, 20).


e = Công (công nhân, người thợ)

Chữ viết trên xẻng đá Cảm Tang của người Lạc Việt giống chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn (Việt Nam), chữ viết trên hai chiếc đĩa gốm ở vùng văn hóa Hòa Bình Việt Nam và chữ giáp cốt tìm lại ở vùng văn hóa Ngưỡng Thiều (Trung Quốc) chứng minh hùng hồn rằng chữ viết người Lạc Việt là chữ khoa đẩu (chữ con nòng nọc) của dân Bách Việt.

Những chứng cứ khaỏ cổ học và cổ sử khác đều cho một kết qủa như trên :

1-Văn bản trên bình gốm ở di chỉ Bán Pha 2 ỏ tỉnh Sơn Tây có niên đại 12.000 trước Công Nguyên.

2-Những ký tự khắc trên yếm rùa ở di chỉ Giả Hồ tỉnh Hà Nam có niên đại 9.000 trước Công Nguyên.

3-Một số chữ phát hiện raĩ rác ở vùng Sơn Đông.

4-Chữ Thủy của bộ lạc Thủy, di duệ của Việt tộc với 250.000 người sống ở Quý Châu.

Theo các nhà khảo cổ có uy tín thì tất cả các chữ đó có các đặc điểm sau đây :

a-Ký tự Bán Pha 2 và Giả Hồ có niện đại trước cuộc xâm lăng của Hiên Viên (2600 trước Công Nguyên) tức là trước khi Hoa Hạ ra đời. Điều này chứng tỏ sãn phẩm đó là của người Việt, một tôc người sống trên Hoa Lục 40.000 năm trước.

b-Cả ký tự Bán Pha 2, ký tự Giả Hồ và chữ viết Thủy cũng có sự gần gủi vơí giáp cốt và Kim văn. Dựa trên luật đọc chữ giáp cốt, các nhà khảo cổ người Mỹ đã đọc được bản văn trên bình cổ Bán Pha 2.

c-Chữ xưa nhất và đơn giản nhất cũng có gần gủi và “gợi nhớ” tới chữ muộn hơn và có tự dạng phức tạp hơn là giáp cốt văn. Điều này cho thấy chữ tượng hình trên đất Trung Hoa có sự phát triển liên tục từ ít nhất 10.000 năm đến 15.000 năm trước Công Nguyên.

Phân tích tự dạng rìu Cảm Tang, ta thấy chữ Cảm Tang phức tạp hơn chữ Bán Pha 2 và Giả Hồ, nhưng đơn giản hơn chữ giáp cốt và Kim văn. Điều này cho phép giả thuyết hệ thống chữ viết Lạc Việt từ tự dạng Bán Pha 2 và Giả Hồ tiến đến Cảm Tang. Câu hỏi đặt ra là từ đâu dẫn tới ký tự Bán Pha 2 ? Ta cần nhiều hơn phát hiện khảo cổ hoc để thấy tiến trình của chữ Việt cổ. Nhưng dựa vào những dử kiện hiện có, ta có thể đoán rằng chữ Việt cổ được bắt đầu bằng những ký hiệu hiêm hoi trên bải đá Sapa. Có thể từ bải đá Sapa, một nhóm Việt đi theo hướng tây bắc mang chữ lên Sơn Tây, Thiểm Tây và lưu lại chữ viết trên bình cổ Bán Pha 2.

Những nhóm Việt khác mang ký tự Sapa lên Quảng Tây, Quảng Đông rồi vượt Dương tử lên vùng Sơn Đông lập trung tâm lớn người Việt. Do ở giai đoạn sớm nên chữ viết Bán Pha 2 và Giả Hồ còn đơn giản. Ở thời kỳ muộn hơn nên chữ Cảm Tang phức tạp hơn. Từ đó chúng tôi cho rằng chữ giáp cốt và đồ đồng Ân Khư là sự phát triển sau cùng của chữ Lạc Việt. Đó là tiến trình của chữ Việt theo chứng cứ khảo cổ học. Chúng tôi có nhiều bằng chứng trực tiếp là chữ Lạc Việt thuộc về gia đình khoa đẩu gồm chữ viết của người Hòa Bình và người Đông Son vì chữ Lạc Việt giống chữ Sĩ của người Hòa Bình và chữ Mộc trên các đồ đồng Đông Sơn hay nói một cách khác là chữ người Hòa Bình (Bách Việt) và chữ trên đồ đồng Đông Sơn là do sự phát triển liên tục về sau của chữ Lạc Việt.

III- Chữ Viết Dân Hòa Bình :

Bà Madelaine Colani, một nhà khảo cổ danh tiếng Pháp quốc đã đào quật nhiều hang động ở tỉnh Hòa Binh bắc Việt Nam. Bà thâu lượm nhiều chứng tích khác với các nền văn hóa trên thế giới. Bà liền đề nghị một Nền Văn Hóa Hòa Bình. Cả thế giới đều công nhận. Năm 1923, trong khi bà đào quật trong vùng văn hóa Hòa Bình, bà tìm được hai chiếc đĩa gốm nhỏ khăc hai chữ có dạng chữ Sĩ và chữ Thượng, nhưng niên đại của hai chiếc đĩa gốm đó là 8.000 trước Công Nguyên. Ở thời đó (8000 trước Công Nguyên) là 5350 năm trước Hòang Đế và 6400 năm trước nhà Thương ra đời. Chữ Tàu chính thức nhìn nhận có vào 1300-1200 trước Công Nguyên. Khi mới đào quật lên, hai chữ Sĩ và chữ Thượng này không được chú ý lắm vì bị tưởng lầm là hoa văn trang trí. Nhưng khi xét kỷ lại thì chúng có dạng chữ Sĩ và chữ Thương trên bản Hán Tự Thượng Hải (Shanghai Chinese Scripts). Vây chữ viết này phải là chữ viết của dân Hòa Bình (Bách Việt). Hai di chỉ khảo cổ này chứng minh một cách tuyệt đối là người Tàu đã chiếm thu chữ viết của Việt tôc đổi thành chữ Hán, Đây là hình chụp thực (photo) của hai
chiếc đĩa gốm nhỏ ấy :







Hình 2 : Hình hai chiếc đĩa gốm nhỏ Madelaine Colani đào quật ở


vùng Văn Hóa Hòa Binh bắc Việt Nam năm 1923 với niên đại 8.000 TCN.


IV- Chữ Viết Trên Đồ Đồng Đông Sơn :



Năm 1979, khi khảo sát những di vật thuộc văn hóa Đông Sơn do nhà khảo cổ Thụy Điển O. Janse khai quật ở Thanh Hóa, hiện để ở bảo tàng Guimet, Paris. Giáo sư Hà Văn Tấn thấy một công cụ bằng đồng mà các nhà khảo cổ quen gọi là lưởi cày cánh bướm, đặt trưng cho vùng sông Mã, có hai ký hiệu ở hai bên họng tra cán (Hình 3, hàng trên). Ký hiệu thứ nhất ở hàng trên là chữ Tài (tài giỏi) và chữ thứ hai là chữ Dĩ (công dụng). Cặp chữ thứ 4 ở hàng dưới là chữ Mộc (cây). Hai chữ Mộc làm thành chữ Lâm.






Hình 3 : Hàng trên : Chữ viết trên lưởi cày cánh bướm Thanh Hóa.

Hàng dưới: chữ viết trên cái qua sông Mã, Thanh Hóa.



Chữ khoa đẩu Chữ Hán

Hình 4 : Chữ khoa đẩu Mộc sửa thành chữ Hán Mộc.
(Trich từ sách "Nghiên cứu chữ Hán và tiếng Hán Việt 1989" của Giáo sư Vũ Thế Ngọc, tr.280, cột 15)


Chữ khoa đẩu Mộc được người Tàu sửa đổi thành chữ Đại triện (chữ Hán) Mộc (Hình 4)
Trong đồ đồng của Bảo tàng Lịch sử ở Việt Nam (Hà Nội), Giáo sư Hà Văn Tấn gặp một chiếc qua, một thứ vũ khí cổ, tìm được ở vùng sông Mã Thanh Hóa, trên thân có khắc năm ký hiệu. Giáo sư Hà Văn Tấn xác định “Chữ viết trên lưởi cày văn hóa Đông Sơn hẳn là chữ viết của người Việt cổ.” Cái qua đồng vừa tìm thấy ở vùng sông Mã Việt Nam, lại vừa tìm thấy ở phía nam sông Dương tử. Ông nghĩ rằng chữ viết trên cái qua là chữ viết của người Lạc Việt. Ở Trường Sa (Hồ Nam), người ta tìm thấy trong một ngôi mộ Sở một con dao găm có cán hình người. Đó là sãn phẩm của văn hóa Đông Sơn. Giáo sư Hà Văn Tấn kết luận : “Ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn theo sông Nguyên, sông Tương lên đất Sở là rõ ràng”. Giờ đây có thể nói rằng Có một hệ thống chữ viết Việt cổ vào thời văn minh Đông Sơn phát triển rực rỡ ở thế kỷ IV trước Công Nguyên, trước khi người Hán vào xâm lược, đô hộ đất nước của người Việt cổ hơn một nghìn năm, và đến năm 989 đã bị đánh đuổi về phương Bắc.”.


IV- Đào Quật Chữ Giáp Cốt Năm 1899 :

Năm 1899, ông Wang Yrong một viên chức ở Bắc Kinh ngã bệnh được cho toa mua thuốc có xương rồng (dragon bone). Ông nhận thấy có chữ Hán cổ khăc trên các xương rồng đó. Vậy ông Wang Yrong là người Tàu đầu tiên thấy chữ Giáp Cốt. Sự tình cờ khám phá ra chữ viết trên xương rồng làm thuốc đã đưa đến sự đào quật lên chữ Gíap Cốt vào năm 1899 ở vùng văn hóa Ngưỡng Thiều. Chữ giáp cốt có niên đại 1300 trước Công Nguyên. Vậy từ năm 1300 trước Công Nguyên đến 1899 (sau Công Nguyên, tức là từ cuối đời nhà Thương, Chu (1050-256 trước Công Nguyên), Xuân Thu Chiến Quốc, Tần (221-207 trước Công Nguyên) và Hán, không một người Tàu nào biết có chữ giáp cốt cả (hơn 3.000 năm) vì nó còn nằm sâu dưới đất. Ngay cả Chu Tuyên Vương (827-782 trước Công Nguyên) cũng không biết có chữ giáp cốt chôn dưới đất sâu khi nhà vua này sai Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra chữ Đại triện. Tuy vậy, trên Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia (16-09-2009), người Tàu vẫn viết : “Triện thư là chữ cổ cuả thư pháp Trung Quốc. Nó có nguồn gốc từ chữ giáp cốt thời Chu (1050-256 trước Công Nguyên) và phát triển tai đất Tần (221-207 trước Công Nguyên) trong thời Chiến Quốc…” Rõ đây là một sự xác định thiếu cơ sở lịch sử và khoahọc. Chữ giáp cốt chưa được đào quật lên vào năm 1050 trước Công Nguyên cho đến 1899 (sau Công Nguyên) thì làm sao Triện thư có nguồn gốc từ chữ giáp cốt thời nhà Chu được?? Người Tàu lờ đi chính Chu Tuyên Vương (827-782 trước Công Nguyên) đã ra lệnh cho Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ Đại triện để dùng vào việc viết sử Tàu! Tự Điển Việt-Hán-Nôm giới thiệu sơ lược văn tự Hán-Nôm viết : “Chữ Triện ra đời vào khoảng 826-827 trước Công Nguyên là sãn phẩm của quan Thái sử đời Chu Tuyên Vương sáng tạo ra”. Năm 213 trước Công Nguyên, Thừa Tướng Lý Tư cho phát hành 3.300 chữ dưới tựa đề là Tam Thương. Hệ thống này gọi là Tiểu tiện mà không sáng tạo ra chữ mới nào khác cả. Vậy Triện thư chẳng có liên hệ gì với chữ giáp cốt cả và được dùng để viết sử Tàu trước chữ giáp cốt đến 2.827 năm.

Giáo sư Vũ Thế Ngọc nhận thấy chữ giáp cố đã phát triển tới giai đoạn “hội ý” mà không qua một giai đoạn căn bản thuần túy tượng hình và chỉ sự nào cả. Ông viết tiếp : “Tuy nhiên, từ thời Ngưỡng Thiều đến đó là gần 3.000 năm mà trong suốt 3.000 năm ta không thấy bất cứ một chứng liệu nào chứng tỏ sự sáng tạo liên tục từ các hình vẻ hay dấu hiệu thời Ngưỡng Thiễu tiến đến lối văn tự xuất hiện gần cuối đời Thương (1300 trước Công Nguyên). Khoảng cách 3.000 năm đủ để đánh đổ giả thuyết có sự liên hệ giữa chữ giáp cốt và nền văn hóa Ngưỡng Thiều”.

Các nhà khảo cổ quốc tế và một số nhà khảo cổ Trung Quốc như Qiu Xigui cũng không nhận có sự liên hệ giữa chữ giáp cốt và nền văn hóa Ngưỡng Thiều. Qiu Xigui (2000 tr,31) viết : “Chúng ta không có căn bản nào để nhận những hình vẻ trên đồ gốm, xương thú hay mai rùa là chữ viết và lý do nào để kết luận chúng là nguồn gốc của chữ viết đời nhà Thương”.

Không một chữ viết của dân tộc nào gồm cả chữ viết theo vần mà không đi qua giai đoạn tượng hình. Chữ giáp cốt cuối đời Thương hoàn toàn thiếu chữ tượng hình. Không có chữ tượng thì chữ hội ý không thể thành lập được! Vậy kết luận là người Tàu không phát minh ra Lục Thư (sáu cách thành lập chữ Hán) và chữ giáp cốt.

Theo các nhà khảo cổ, chữ giáp cốt là sự phát triển cuối cùng của chữ Lạc Việt. Triện thư chỉ là sự sửa đổi chữ khoa đẩu tạo thành chữ Đại triện (chữ Hán).

V- Chữ Việt Tộc Tìm Lại ở Tỉnh Vân Nam Trung Quốc năm 2010 :

Trong công cuộc chiếm thu chữ viết của Việt tộc, Chu Tuyên Vương (827 – 782 trước Công Nguyên) sai Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ khoa đẩu (14VN) đặt ra lối chữ Đại triện (chữ Hán) để viết sử Tàu. Chúng tôi tìm lại được bằng chứng của sự tráo đổi này ở các chùa nhỏ ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc năm 2010 (Hình 5) :.



5a 5b 5c
Hình 5 : 5a=chữ khoa đẩu "Phật"
5b=chữ khoa đẩu "Phật" sửa thành chữ Hán "Phật"
5c=chữ Hán "Phật" hiện đại.


Người Bắc Kinh đọc chữ 5a và 5b là “Phỏ”. Người Quảng Đông đọc chữ 5a và 5b là “Phât” như ngưòi Việt Nam đọc vậy. Người Bắc Kinh, Quảng Đông và Vân Nam nhìn nhận 5a và 5b là chữ Hán cổ. Chữ 5b và 5c giống nhau hoàn toàn trừ 5b là chữ viết tay và 5c là chữ in.
Du Miên tác giả sách “Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông” viết “Vân Nam là xứ mà truyền thuyết nói rằng Mẹ Âu Cơ dẫn năm mươi con lên núi”. Cổ sử Tàu chép dân Điền Việt (một nhóm Bách Việt) sinh sống ở Vân Nam. Chữ khoa đẩu “Phật” bắt đầu bằng hai sổ thẳng đứng nối nhau ở đầu trên. Một trong hai nét thẳng đứng đó bị thay thế bằng một phảy từ trái sang phải nằm trên nét thẳng đứng còn lại. Cách sửa đổi này cũng tìm thấy trong 28 chữ khác trong 1.000 chữ khoa đẩu mẩu của sách Nghiên cứu chữ Hán và tiêng Hán Việt 1989 của Giáo sư Vũ Thế Ngọc. Lệnh của Chu Tuyên Vương sai Thái sử Trủu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ Đại triện (14VN) hoàn toàn ăn khớp với cách sửa đôi chữ khoa đẩu “Phật” thành chữ Hán “Phật” trình bày ở đây.


VI- Chữ Việt Tượng Hình Đời Thương :

Năm 1600 trước Công Nguyên, nhà Thương một bộ lạc du mục với văn hóa truyền khẩu (không có chữ viết), có gốc Turk đến từ Tây Bắc sống đời sống du mục ở Tân Cương và Thanh Hải. Mãi về sau họ mới xâm chiếm đất của Bách Việt. Vậy họ có toàn quyền thu đoạt tất cả gồm đất đai, tài sãn, văn hóa và chữ viết của Việt tộc. Chúng tôi có thêm tài liệu chữ viết Việt Tuyệt Ký hay Việt Tuyệt thư (còn gọi là Việt Chép), một tài liệu thời Xuân Thu Chiến Quốc, trước cả Sử Ký của Tư Mã Thiên cho biết Chữ viết và văn hóa của nhà Thương đều là kế tục cuả nhà Hạ . Việt tộc đã có hai chữ Việt bộ Mễ và Việt bộ Tẩu từ trước khi nhà Thương xâm lăng đất Bách Việt (hai chữ Việt này tìm thấy trong giáp cốt văn năm 1899). Trước khi nhà Thương công khai chiếm đoạt chữ Việt, họ tráo đổi chữ Việt bộ Mễ (lúa) có caí móc hình lưởi hái gặt lúa ỏ phía dưới thành cái gọi là “Chữ Việt tượng hình đời Thương (Hình 6) dưới đây :







Hình 6 : Chữ Việt tương hình đời Thương do chỉ lấy cái móc ở dưới
chữ Việt bộ Mễ của Việt tộc để tạo chữ Việt mới đời Thương.

Việc làm này có mục đích gây ảo tưởng rằng :

1-Nhà Thương cũng phát minh chữ viết tượng hình. Sự thực là người Tàu đời Thương chỉ lấy cái đuôi của chữ Việt bộ Mễ để gây ảo tưởng là đời Thương cũng phát minh ra chữ tượng hình như Bình Nguyên Lộc mô tả như sau (trang 154-157) : “Chữ Việt nguyên thỉ viết rất kỳ lạ : một nét ngang dài và một cái móc ở dưới. Đó là chữ Việt cuối đời nhà Thương, đầu đời nhà Chu, chứ đời Hạ, không ai biết nó ra sao cả, vì không tìm được cổ tự đời Hạ bao giờ, nếu đời Hạ đã có chữ. Chữ Việt giản dị đó, đích thị là cái đuôi của chữ Việt thứ nhì trong thư tịch Trung Hoa, chữ Việt mà các nhà Nho ta gọi là Việt bộ Mễ, nhưng người Trung Hoa gọi đó là chữ Việt bô Nguyệt và cái bộ Nguyệt là chính khúc đuôi ấy, chớ không phải là chữ Mễ bên trong khung vuông. Cho đến khi Khổng Tử san định Kinh Thư thì chữ Việt bộ Mễ mới thấy xuất hiện, chớ trước đó thì chỉ có chữ Việt nguyên thỉ là cái đuôi của chữ Việt bộ Mễ. Tại sao họ lại viết như vậy? Không thấy sách nào cắt nghĩa cả, chúng tôi nghiên cứu riêng thì thấy rằng chữ Việt nguyên thỉ và đơn giản đó, có thể có nghĩa là cái rìu… Một lưởi rìu như vậy đã đào được ở Quốc Oai, giữa Hà Đông và Sơn Tây…”

2-Họ đặt tên Việt cho dân Việt.

3-Che giấu sự thật là Việt tộc đã có chữ Việt bộ Mễ (lúa) mà cha ông đã ghi lại cái thành tích vĩ đại phát minh ra lúa nước trước nhất thế giới và thành lập nông nghiệp.

4-Đưa các học giả Việt Nam gồm cả Bình Nguyên Lộc vào giả thuyết sai lạc về chữ Việt có liên hệ với cái Rìu ở Quốc Oai hay Chiếc Giang.

Việt Tuyệt thư ghi chép “Khổng Tử dạy học bằng tiếng Việt được gọi vào thời đó là Nhã Ngữ (Nhã là đẹp). Không Tử nói và viết tiếng Việt thành thạo. Ngài soạn thẳo sách Xuân Thu của ngài bằng chữ khoa đẩu theo Tân thư Vệ Hằng truyện. Tần Thủy Hoàng “quy định” lấy Nhã Ngữ để thống nhất hóa tiếng nói và chữ viết của toàn thể Trung Quốc.

Qua “Lổ Hỏng Lịch Sử Trung Quốc”, chúng tôi nhận thây có nhiều điều trong đời sống hằng ngày vào thời đó cho phép đưa đến kết luận là chữ viết Việt, văn hóa Việt và ngôn ngữ Việt đã được xữ dụng trên toàn thể Trung Nguyên với vài thay đổi tùy theo mức độ pha chủng và kết hợp văn hóa khác nhau. Chứng cứ là :

a-Các học giả trước, đồng thời và sau Khổng Tử đều thông thạo chữ khoa đẩu.

b-Nhiều sách giá trị viết bằng chữ khoa đẩu như Kinh Thư, phần Ngu (Đế Thuấn), Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh vân… vân…

c-Khổng Tử dẫn học trò đi chu du các nước Lỗ, Sở, Ngô, Việt, Tần , Tề…để phổ biến tư tưởng của ngài và xin phục vụ cho các vương quốc đó. Nếu họ không có cùng một chữ viết và ngôn ngữ thì Khổng Tử phổ biến tư tưởng của ngài cho ai và phục vụ cho vương quốc nào? Tất cả học giả ở các nước đó đều thấm nhuần tư tưởng của ngài là chứng cứ không chối cải được của cái chữ viết chung, tiếng nói chung và văn hóa chung.
Cảm nghĩ của chúng tôi được Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia chứng nhận với bài viết “Nguồn gốc chữ Hán và Ký tự (Origin of the Chinese Scripts and Symbols)” : “…trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất chữ viết năm 221 trước Công Nguyên, các nước ở Trung Nguyên (China) có cùng một thứ chữ viết mà họ có thể hiểu lẫn nhau (mutually comprehensible) với một số chữ viết ngoại lệ cho riêng mổi nước (deviations)”. Vậy Tần Thủy Hoàng không tiêu diệt chữ viết nào cả mà chỉ sai Thừa Tướng Lý Tư chỉnh đốn lại chữ viết cho thống nhất, giải thích cách cấu tạo và định nghiã các chữ viết ngoại lệ của các nước đó. Ông “quy định” dùng Nhã Ngữ để thống nhất hóa tiếng nói và chữ viết cho toàn thể Trung Quốc..Bài viết này chứng minh một cách trong sáng là chữ viết Việt, ngôn ngữ Viêt và văn hóa Việt được xữ dụng trên tất cả các nước ở Trung Nguyên. Nói một cách khác, bình rượu là Tàu, rượu bên trong bình là Việt tức là chữ viết, ngôn ngữ và văn hóa là Việt.

Phát hiện chữ Lạc Việt năm 2011 một lần nữa chứng minh sự thật này. Hội Nghiên cứu văn hóa Lạc Việt phát biểu ý kiến “Phát hiện chữ Lạc Việt lần này sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, văn hóa Lạc Việt là trong những nguồn gốc trọng yếu của văn hóa Trung Hoa”.

Khi xuống phương Nam để dẹp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện viết và nói tiếng Việt. Sau khi dẹp xong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Mã Viện tịch thu ở đây Bộ Việt Luật bằng chữ vuông tượng hình. Mã Viện đưa 300 gia đình quý tộc Việt đi an trí ở nam Dương tử. Chữ Việt bị tiêu diệt. Những người Việt này phải học lại chữ vuông tượng hình từ đầu. Và chữ vuông lúc này được gọi là chữ Hán (?). Chữ viết không thay đổi, nhưng cái tên thay đổi từ chữ vuông tượng hình Việt tộc thành ra chữ Hán.

Trong chiến dịch lấy chữ Việt tộc biến thành chữ Hán, người Tàu tráo đổi chữ Việt bộ Mễ thành chữ Việt mới tượng hình đời Thương; Chu Tuyên Vương (827-782 trước Công Nguyên) sai Thái sử Trửu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ Đại triện để viết sử Tàu; Khổng Tử từng tự nhận ngài không sáng tạo ra điều gì mới cả mà chỉ lập lạ lời của tiền hiền đã truyền ra, viết lại (san định) các sách quan trọng của Việt tộc như Kinh Thư, Tả Truyên, Luận Ngữ, Hiếu Kinh vân…vân… ; nhà Chu đổi Kinh Dịch thành Chu Dịch, Tần Thủy Hoàng đốt sách và chôn sống Nho sĩ nào cố cất giữ sách viết bằng chữ khoa đẩu; giới sử học Trung Quốc đều cho rằng tổ tiên của dân Tráng là người Lạc Việt không có chữ viết và cuối cùng Mã Viện tiêu diệt chữ Việt tộc cùng đổi tên chữ vuông tượng hình trong Bộ Việt Luật thành chữ Hán.

VII- Kết Luận :

Sự phát hiện chữ viết người Lạc Việt ở Quảng Tây có thể ví với sự động đất rất mạnh trên lảnh thổ văn hóa Trung Quốc thay đổi hoàn toàn quan niệm sai lạc mà người Tàu đã cố tạo dựng lên trên 3.000 năm lịch sử. Đó là một ngọn sóng thần quét sạch ra bể Đông những lớp bụi mờ bao phủ lịch sử thật của Việt tôc. Chữ viết Lạc Việt chứng minh Việt Tuyệt thư là đúng như ông Đổ Thành người Triều Châu đã viết trong “Bách Việt Sử : Những Lớp Bụi Mờ của Lịch Sử”. Ông kết luận : “Quá nhiều bằng chứng và quá rõ ràng là trước đây từ Hán, Tần, Xuân Thu Chiến Quốc, Chu, Thương, Hạ, Ngũ Đế, Tam Hoàng, vân…vân… xa xưa, văn hóa và ngôn ngữ là Việt.

Chữ viết Việt tộc là chữ cổ nhất thế giới có thể có niên đại từ 10.000 năm đế 15.000 năm trước Công Nguyên. Chữ viết cổ thứ hai là chữ viết Sumérien (Lưởng Hà hay Iraque hiện tại) với niên đại 3100 năm trước Công Nguyên. Chữ viết Ai Cập xuất hiện ít lâu sau chữ Sumerien.

Chữ Hán (827 trước Công Nguyên) có nguồn gốc từ chữ Lạc Việt (15.000 năm trước Công Nguyên).

Bây giờ đã đến lúc Hàn Lâm Viện Bắc Kinh phải vô tư trong vấn đề giải quyết sự thật lịch sử “Chữ Hán hay Chữ Lạc Việt”.

Chúng tôi luôn luôn tôn trọng sự thật. Chúng tôi cũng khiêm tốn và nhẫn nại chờ đợi câu trả lời dứt khoát của Hàn Lâm Viện Bắc Kinh.


    Hôm nay: 19/11/2017, 2:30 am