Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


December 2018

MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      

Calendar Calendar

Khách thăm







Vài thông tin mới trong sử Hán – Hoa .

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 850
Join date : 31/01/2008

Vài thông tin mới trong sử Hán – Hoa .

Bài gửi by Admin on 30/12/2010, 10:35 pm

Vài thông tin mới trong sử Hán – Hoa .

Xin nhắc lại vài hàng về 4 thuộc quốc nhà Thương –Ân :
- phía nam là nước Quang .
- phía bắc là nước Thao.
- phía đông là nước Từ.
- Phía tây là nước Chu.
Chính xác : quang – từ – thao - chu là quan –thương - thiêu - châu
Quan là nhìn , nom .
Thao biến âm của thiêu đốt chỉ hướng xích đạo nhiệt đới
Từ là dịch chữ thương hay tình thương chỉ phương đông chủ tình ngược với phương tây chủ lý .
Chu biến âm của chiêu tức hướng mặt trời lặn nghĩa là hướng tây trong thực tế , củng là Châu nghĩa là sáng so trong ngũ sắc là màu trắng cũng chỉ phương tây.
Dựa vào tên những phụ quốc của nhà Thương Ân trên khi đối chiếu thì chính những thông tin của nước Đông Hán giúp xác định vị trí nước Quan :
Vua kiến lập Đông Hán là Quang vũ , vũ chỉ là biến âm của vua , quang chính xác là quan nghĩa là nom – nhìn , hướng nom đã biến thành hướng Nam –phương nam ; quan vũ nghĩa là vua của nước ở phương nam hay phía nam ,
Quan vũ kiến lập Hán quốc ở vùng Hà bắc Trung quốc ngày nay; vùng đất này có tên là đất Liêu , Hán sử viết năm 269 nhà tây Tấn phong Mộ Dung Hối là Liêu đông quận công , có thể tên đất Liêu đã có từ trước thời Tấn vì các vua Đông Hán đều mang họ Lưu , Lưu chỉ là biến âm của Liêu cả 2 cùng có gốc ở chữ LU tiếng Việt nghĩa là mờ tối .
Sử gia người Hán khi viết sử đã không phân biệt Quốc và Gia , họ cũng đánh đồng luôn tộc người và dòng họ khiến người đọc sử của họ không biết đâu mà lần...khi viết các vua Yên là Mộ dung Thùy ; Mộ dung Hoằng .v.v.thì hiểu Mộ dung là dòng họ nhưng khi viết tên các vua bắc Ngụy là Thác bạt Khuê ; Thác bạt Dư .v.v. thì Thác Bạt lại hiểu là Tộc người .
Trường hợp họ Lưu của các vua Đông Hán như Lưu Tú ; Lưu Trang .V.V. họ đã cố ý cho người ta tưởng đó là tên 1 dòng họ như họ Nguyễn họ Lê vậy ...nhưng thực ra Lưu là biến âm của Liêu là tên gọi rất đặc biệt vừa là 1 tộc người - người Liêu đồng thời cũng là tên của 1 nước - nước Liêu hay Liêu quốc ngoài ra còn là 1 triều đại – nhà Liêu .
Hán quốc vua họ Lưu cũng là Hãn quốc của người Liêu .
Mối liên quan thông tin về nước Đông Hán ở trên đất Liêu và sự đan móc các từ Khiết đan – khan – Hãn – Hán ; Lu – Lưu - Liêu đã đủ để kết luận :
Người Hán và người Liêu là Một ngoài ra còn tên gọi khác là Khiết đan .
Nước Đại Liêu tức Hán quốc cũ phục hưng sau gần 700 năm mất tích ... Có người viết :người Liêu hùng cứ tại miền bắc Trung Quốc kéo dài hơn 200 năm( 907 – 1125), cùng với triều Bắc Tống hình thành cục diện đối địch. Trong thời kỳ này, con đường tơ lụa thông thương từ Trung Quốc sang phương Tây bị cắt đứt, các quốc gia vùng lục địa Á - Âu tưởng nhầm là toàn bộ đất nước Trung Quốc đều đã nằm dưới sự thống trị của tộc người Khiết Đan. Thế là Khiết Đan trở thành tên gọi của toàn cõi Trung Hoa qua suốt thời 3 triều đại Liêu – Kim – Nguyên ?.
...nói như thế là sai hoàn toàn , Khiết đan là Khiết đan ; Trung hoa là Trung hoa , hợp chủng quốc Hán – Hoa mãi tới năm 1911 mới ra đời thì ở thời ấy đã làm gì có cái giỏ để mà vơ chung cả Khiết đan và Tống quốc vào làm một ?.
Theo thông tin trên mạng thì Dân tộc Khiết Đan – Liêu đã tạo nên một vương quốc quân sự hùng mạnh và một nền văn hóa rực rỡ. Chùa Liêu và tháp Liêu thể hiện trình độ văn minh của họ. Tới nay, các chùa và tháp cổ được bảo tồn tại phía bờ Bắc sông Hoàng Hà. Các công trình đều nguy nga hùng vĩ, qua ngàn năm vẫn trơ gan trước băng tuyết gió mưa.
Tháp Thích Ca tại huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây là kiến trúc kiểu tháp kết cấu gỗ xưa nhất, cao nhất trên toàn thế giới, từng trải qua mấy trận động đất mà vẫn không bị hư hỏng. Một dân tộc sáng tạo nên nền văn minh rực rỡ như vậy thì nhất định phải có một cơ sở kinh tế và một sức mạnh kỹ thuật hùng hậu.
Tộc Liêu nước Liêu là đại tộc đại quốc chứ không phải một ‘dúm’ người vậy mà ngày nay không còn tăm tích gì ??? tên Liêu không có trong danh mục các dân tộc Trung hoa ; không ai biết họ biến đi đâu ?
Sự biến mất của cả 1 dân tộc đã có thời cai trị hơn một nửa lãnh thổ Trung Hoa .... chỉ là sự ỡm ờ giả ngây của các khoa học gia hay khoa học ‘giả’ gì đó ... với những tư liệu nắm trong tay chắc chắn họ biết đích xác người Liêu chính là người Hán ở Hoa bắc ngày nay nhưng ...nói ra thì chẳng lẽ công lao cả trăm năm cạo – cạo sửa - sửa của ông cháu Khang Hy – Càn Long biến ra công cốc à ?, Kẹt ...nhất là yếu tố Việt trong văn minh Trung Hoa , dòng Bách Việt còn sót 1 chi sờ sờ ra đó chưa đồng hóa được ...lỡ nhân việc này mà người Việt danh chính ngôn thuận đóng ấn xác lập chủ quyền trên Tứ thư – Ngũ kinh thì văn minh Hán quốc còn cái gì ?
Khiết đan và Liêu là một và chính là ‘Hán nhân’ trong đất nước Trung hoa ...điều này thực buồn cho ai đó vì một khi Hán đã xác định là Khiết đan – Liêu thì không thể nào là Trung hoa được nữa .
Qua chuyện của người Quan – Liêu tiếp đến là thông tin về người Từ -Nhung .
Nước Hán – Liêu diệt vong bởi tay Tào Tháo , Tào Tháo tước Tào vương nhưng khi lập quốc lại xưng là Ngụy , đây cũng là điều không bình thường .
Thông tin về cuộc đông chinh đánh Hoài di - Từ nhung của ông Chu Công giúp xác định vị trí Nước Từ trên bản đồ là vùng sông Hoài tức Sơn đông – bắc giang tô ngày nay. Từ là dịch chữ Thương trong tiếng Việt , thương là thương yêu nhưng Thương cũng là thanh màu xanh , nhung là biến âm của nhũn – mềm cả 2 thương và nhũn đều là tính chất của phương đông theo Dịch học .
Từ →Tào , Tào Tháo tước Tào vương theo quy luật thì tên nước phải là nước Từ - Tào , nhưng không hiểu sao lại không có nước Tào trong lịch sử mà thay vào đó là nước Ngụy , rất có thể sử gia Việt tộc thời đó muốn làm nổi bật cuộc chiến tranh 3 bên trong đó mối tương quan Thục –Ngô là ‘thù trong’ còn Thục – Ngô đối với Ngụy là ‘giặc ngoài’ ..., nước Ngụy chính xác là nước ngoại - ngoài , lịch sử Trung hoa không có thời tam quốc theo nghĩa thông thường mà là thời diễn ra song song 2 cuộc chiến giải quyết những xung đột cùng lúc cả thù trong lẫn giặc ngoài . Trong 3 nước thì Thục và Ngô là 2 nước của Bách Việt , Ngụy là nước của Man tộc tức giặc ngoài .
Ngụy nghĩa là giả khiến trong tiếng Việt ngoài ‘giặc cỏ’ còn có thêm từ ‘giặc dã’ phát âm sai của ‘giặc giả’ chỉ quan quân Tào - ngụy, bản thân từ Ngụy cũng được người Việt dùng như từ đồng nghĩa với ‘giặc’ , Ngụy sứ là sứ của giặc .
Khi Nước Tấn thay nước Ngụy , trong sử Trung hoa xuất hiện dòng họ lạ... họ Tư mã .... người ta cứ tưởng dòng họ này khởi nguồn từ ông tổ là quan Tư mã của triều đình Trung hoa như vậy đây đích thị là dòng giống Trung hoa ; thực ra Tư mã chính xác là Tây mã chỉ địa bàn gốc của dòng giống Tấn ở phía tây đất Mã tây bắc tỉnh Sơn tây ngày nay , bản đồ ngôn ngữ Trung hoa đã xác định ý nghĩa này .
Tấn ngữ là hệ ngôn ngữ riêng ngày nay được xếp là 1 nhánh của ngữ hệ Hán Tạng .
Rất có thể ban đầu gốc người nước Tấn thuộc dòng Thát - Mông về sau bị đồng hóa trở thành người Hán –Liêu như ngày nay.
Thêm vài thông tin lịch sử thú vị nữa :
Dòng thác bạt lập nước Ngụy thường gọi là Bắc Ngụy tồn tại từ năm 386 đến năm 534....và trong khoảng năm 466-470 Hiếu văn đế Thác bạt Hoằng đã tự ‘Hán hoá’ đổi tên thành Nguyên Hoằng .
Dùng phép phiên thiết Hán văn ta có thông tin :
Thác bạt thiết là Thát .
Sử Việt nam viết :Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông hết thảy chiến binh Việt đều xâm vào tay hai chữ ‘sát Thát’ , liệu chữ Thát này có liên quan gì tới người Thác Bạt ?
Phải chăng Mông cổ xưng là Nguyên tức lấy theo tên dòng họ Thác bạt thời bắc Ngụy gần 700 năm trước ?
Tên ông Tổ của nước Mông cổ ký âm la tinh là Genges Khan ,tên Trung hoa là Thành cát tư hãn , Khan và Hãn là từ đồng nghĩa chỉ thủ lãnh là chúa vua .
Tên của vì chúa tể Mông - Nguyên này khi dùng phép phiên thiết giải mã thì thu được thông tin rất thú vị :
Thành cát thiết là Thát .
Tư →tây : phía tây
Danh hiệu Thành cát tư hãn nghĩa thực là : chúa của người hay dòng Thát phía tây.
Một thông tin khác :
Thành cát tư hãn còn được gọi là Thiết mộc chân .
Thiết là biến âm của Thát .
Mộc chân là âm phiên thiết của từ Mân hay man - mông
Thiết mộc chân là ‘bí tự’ giải ra là Thát man hay Thát mông .
Điều này xác định người Thác bạt – Nguyên nước bắc Ngụy chính là tiên tổ của dòng Mông – Nguyên làm rúng động khắp Á – ÂU sau này .
Tới đây ta đã rõ về chữ ‘Thát’ xâm trên cánh tay của các chiến binh huyền thoại , Nguyên – Mông và Thát là một .
Tổng hợp những thông tin trong bài này và bài trước viết về người Kim - Mãn có thể xác quyết :
Thác bạt – Thát cũng chỉ là 1 thành phần của đại cộng đồng người gọi vua là khan là hãn được sử gia Hán tộc viết bằng ‘bí ngữ’ là Khiết đan .
Khiết đan là 1siêu tộc tương đương với Bách Việt gồm các chi :
Hán – Liêu ;Thát – Mông và Kim – Mãn ( Tiên ty).
Sử Hán gọi họ là người Hồ ...chính xác hơn phải gọi họ là Bách Man để tương xứng với siêu tộc Bách Việt trong cuộc trường kỳ đấu Tranh mà xét cho tới ngày nay chính họ là người chiến thắng .
Bằng nhiều thủ đọan từ tàn ác tới thâm hiểm họ đã thắng lợi triệt để tới mức
Chỉ trừ chi Lạc Việt Hầu hết người Bách Việt ngày nay không còn biết mình là người Việt , thân xác hình hài Việt còn đấy nhưng đau đớn là hồn Việt đã bị qủy bắt mất rồi
.

    Hôm nay: 16/12/2018, 4:13 pm