Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Trang dòng Hùng Việt

Gallery


December 2017

MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar

Khách thăm







Tứ Di

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 765
Join date : 31/01/2008

Tứ Di

Bài gửi by Admin on 8/11/2010, 1:37 pm

Đồ Hình ngũ sắc và tứ phương .





Người Hán nhận mình là Trung hoa nghĩa là họ tự cho mình là dân tộc trung tâm và văn minh nhất thiên hạ còn lại các dân tộc khác ở bốn phương thường gọi là tứ di , Di nguyên thủy là biến âm từ chữ nhì hay nhị có nghĩa nôm na là dân hạng hai so với dân trung quốc là dân hạng nhất .
Tứ di là :


– nam Man .

– bắc Địch .

– đông Di .

– tây Nhung.

Ngoài tứ di Cũng có tên gọi khác chỉ chư hầu 4 phía như tác gỉa Lê Giảng trong sách ‘các triều đại Trung hoa’ xuất bản tại VN năm 2002 viết : nhà Thương –Ân có 4 thuộc quốc :

– phía nam là nước Quang .( chính xác phải là nước Quan )

– phía bắc là nước Thao.

– phía đông là nước Từ.

– Phía tây là nước Chu.

Lần lượt ta điểm mặt tứ Di ở 4 phương xem họ là ai .

1 – Nam Man :

Theo Ngũ sắc của nền văn minh Dịch lý thì :

phương Bắc hiện nay màu đen , tiếng Việt có từ mun đồng nghĩa với đen , bản thân từ mun là 1 sắc màu không nhằm khinh khi miệt thị ai nhưng Hán tộc đã dùng nó chửi người khác là …kém văn minh khi biến mun→man .

Nhiều tộc người phía bắc Trung quốc hiện nay được các đấng con trời gán cho chữ Man :

Man →mông hay Mông cổ .

Man→Mãn hay Mãn thanh .

Man→Mỉn chỉ nhà Minh (minh nghĩa là tối) .

Ngoài hệ màu những Dịch tượng khác chỉ phương nam cũng được vận dụng :

Lu là mờ ngược với tỏ biến thành Liêu chỉ người Liêu .

Lu biến thể thành họ Lưu của vua chúa Hán tộc .

Kăm nghĩa là lạnh –rét (rét kăm kăm ) biến âm thành Kim chỉ người Kim nước Kim .

So chiếu với màu của tứ phương theo Dịch học thì có ‘nam Man’ hay ‘nam mun’ nghĩa là phương nam màu đen điều này ngược hẳn với phương hướng hiện nay , nếu theo phương hướng hiện nay chính xác phải gọi là bắc man

Nước Quang là thuộc quốc phương Nam phải sửa thành nước Quan thì mới thấy được tên các phụ quốc nhà Thương cũng chính là tên gọi 4 phương , quan là chuyển ngữ từ ‘nhìn-nom’ trong tiếng Việt cũng là chỉ phương nam .

– nom→nôm→nam .( chữ Nôm ; còn biến thành Nồm như gió Nồm tức gió nam)

Quang Vũ tưởng là tên của vua lập ra nước Đông Hán thực ra là ‘quan vũ’ nghĩa là ‘vua phương Nom hay vua nam man’ không phải họ tên  ,  quan vũ chúa Đông Hán chiếm và thống trị Thiên hạ , tất cả bọn cầm đầu bóp cổ dân chúng đều là người giống ‘quan – nom’ từ đấy quan mang thêm nghĩa mới là ông quan  , kẻ cai trị ..., Quan thoại hiện được hiểu là loại ngôn ngữ của nhà quan ... thực ra làm gì có quan quyền gì , quan thoại chỉ nghĩa là tiếng miền Nam tức giọng nói theo âm điệu của con cháu quan vũ xưa .

2 – Bắc Địch .

Lục tìm trong sử Tàu thì chỉ có duy nhất rợ Xích Địch ngoài ra không thấy rợ Địch nào khác .

Xích là màu đỏ khớp đúng với màu đỏ của ngũ sắc Dịch học chỉ hướng xích đạo ; có điều lạ vì nó …ngược với thực tại , hướng xích đạo ngày nay là hướng nam nhưng sách tàu lại viết là …bắc Địch .

Xích Địch ═ bắc Địch > hướng màu đỏ là hướng bắc hoàn toàn đúng với Dịch học , Bắc chỉ là biến âm của Bức – nóng chỉ hướng Xích đạo ngược với hướng Nam – Mun , người Tàu đã phá nát Ngũ hành lộn ngược Nam thành Bắc , Bắc thành Nam nên ngày nay mới có hướng Xích đạo là hướng nam .

Thuộc quốc phía bắc nhà Thương là nước Thao , Thao là biến âm của thiêu – đốt , hướng Xích đạo là hướng nóng thuộc hành Hỏa – qủe Ly – màu đỏ nên quốc gia ở đấy gọi là nước Thiêu – đốt , truyền thuyết lịch sử Việt gọi là Hồng bang ,Xích địch có thể là tên người nhà Thương gọi dân nhà Hạ là triều đại mà họ đã đánh đổ trước đây, đất trung tâm nhà Hạ cũng chính là nơi lập quốc của Triệu Đà hay Triệu Tha , Đà và Tha là Viết sai chính xác là Đào và Thao hay Thiêu , Triệu là biến âm của Chậu ngôn ngữ Thái –Lào , Chủ – Chúa trong tiếng Việt nam .

Xét ý nghĩa chứa trong tên 2 rợ ‘nam man – bắc địch hay Xích địch ’ so chiếu với bản đồ thế giới hiện nay có thể khẳng định : hướng nam – bắc xưa đã bị lộn ngược .

3 – Tây Nhung.

Nhà Chu đánh đổ nhà Thương nhưng không tận diệt , con vua Trụ được phong tước hầu và cho cai quản vùng kinh đô cũ nhưng phải chịu sự giám sát của 3 tông thất nhà Chu gọi là Tam giám …thật bất ngờ Tam giám nhà Chu lại âm mưu cùng quý tộc cũ nhà Thương và đám rợ là Hoài Di –Từ Nhung nổi loạn chống lại nhà Chu…, sử viết Chu công phải đông chinh 3 năm mới dẹp yên .

Thuộc quốc phía đông của nhà Thương cũng có tên là nước Từ .

Theo Dịch học thì phương đông quẻ Khảm là phương của tình cảm , sự thương yêu giữa người và người đối phản với phương tây là phương của quẻ Ly chỉ lý lẽ , thương yêu trong tiếng Việt dịch sang Hán ngữ là từ ái . Phương đông trong Hán sử trở thành phương …Từ ; nước ở phương ấy gọi là Từ quốc , rợ ở phương đông gọi là Từ nhung , việc đông chinh của Chu công đánh rợ Hoài di Từ nhung đã chỉ ra điều đó cụ thể hơn nữa còn cho thấy rợ Từ nhung là ở vùng sông Hoài nằm ở phía đông lãnh thổ Trung hoa .

Người Tàu đã …chữ tác biến ra chữ tộ…; từ→tây , rợ Từ nhung ở phương đông hóa thành tây nhung …thì chỉ có trời mới hiểu ….

Thời Tần gọi người bắc Hoàng hà là người Nhung ,Sử thuyết họ Hùng gọi họ là Quan –Liêu hay Nam Liêu , chính họ sau này thành dân của hoàng đế Quan vũ nước Đông hãn hay đông Hán ,ngoài Nam Liêu còn 2 chi khác là đông Liêu ở Sơn đông chính là rợ Từ nhung trong tứ di và tây Liêu bị Hung nô đuổi chạy tuốt về hồ Thanh hải ở phía tây trung quốc .

Khi nói thuộc quốc phía đông là nước Từ cũng y như nói…thuộc quốc phía đông của nhà Thương là nước ‘phía đông’…đúng là chữ với nghĩa …thực qúa sáng mà trở nên tối …

Trong nền sử địa Trung hoa cổ Người Tàu luôn cố ý thay chữ Thương Việt ngữ chỉ hướng Đông đúng theo Dịch học bằng chữ ‘Từ’ Hán ngữ rồi lộn lạo ‘Từ’ với ‘Tây’ chủ đích là làm rối loạn thông tin sử địa Thiên hạ thời cổ  để mập mờ đánh lận con Đen ...đám chăn ngựa mà  viết ra Tứ Thư - Ngũ Kinh .v.v. thế mới ghê .

Thiên hạ Không có  Tây Nhung chỉ có Từ Nhung , nhung là từ Việt nghĩa là mềm - nhũn dịch tượng của phía Đông đối phản với căng - cứng của phía Tây

Tóm lại trong nền văn minh họ Hùng chỉ có Từ nhung tức Thương nhung hay Đông nhung không hề có Tây nhung .

4 – Đông di.

Khi đã xác định Từ Nhung chính là đông Nhung thì đông Di buộc phải đổi là tây Di .

Có sự Trùng khớp khá lý thú khi biết thuộc quốc phía tây của nhà Thương là nước Chu hay Châu , chính thuộc quốc Chu sau này đã diệt nhà Thương kiến lập triều đại Chu của Trung hoa , lý thú là ở chỗ người Hán gọi họ là rợ Tây Di , đúng y với tên gọi cộng đồng người mà thời trung – cận đại cũng vẫn gọi là Tây Di – Tây nam Di hay tên khác là Di –Lão ở Qúi châu và Vân nam .

Thuộc quốc phía tây của nhà Thương là nước Chu , rợ phía tây trung quốc là Tây Di ; liên kết 2 thông tin ta được điều rất quan trọng :

Thành phần chính của Dân nước Chu thời còn là thuộc quốc của nhà Thương là người Di hay Di lão cũng gọi là người La , sách Tàu gọi là Liêu tử ngày nay là người Kadai .

Thiên hạ bắt đầu phân ra người Hoa Hạ và Di Hạ từ việc ông Khải không tuân theo di mệng của Đại Vũ mà tranh ngôi  với ông Bá Ích , ông Bá Ích phải lánh đi đến Kì sơn , Khải lập nên vương triều Hạ . Từ đấy người Thiên hạ ai theo ông Khải sống nơi đất trung tâm phồn hoa đô hội được gọi là Hoa Hạ , người theo ông Ích phải dạt về tứ phương thì họi là Di Hạ .

Sử thuyết Hùng Việt cho ông Bá Ích chính là Cổ công Đản phủ Thái vương của nhà Châu , đất Kì sơn chính là Cùi chu – Qúi châu ngày nay , chính vì điều này mà nền sử địa Trung hoa có người Tây Di

Rợ tây bắc Trung quốc là Hung nô và Đột quyết .

Phía tây là Chi và Khương .

Tây nam là người Di hay Di lão , ngật Lão cũng là Khuất Lão-khuất Liêu.

Xét qua những thông tin trên thì Địa bàn gốc của nhà Chu không thể nào là Thiểm tây được và nhà Chu cũng không thể nào có gốc Hung nô như 1số nhà nghiên cứu Trung quốc đã nêu ra .

Theo những nghiên cứu gần đây thì người Di là tộc người cố cựu của vùng Quí châu Vân nam , họ đã có mặt ở đấy ít ra cũng hơn ngàn năm trước công nguyên .

Văn vương là TÂY bá , nước phía tây là nước CHU , rợ phía tây là tây DI…liên kết chuỗi thông tin này rồi Căn cứ vào địa bàn sinh trú của người Di đối chiếu với những thông tin trong cổ sử Trung hoa và Việt nam có thể kết luận :

Đất gốc của nhà Chu là Quí châu Trung quốc sau họ cường thịnh lên mở rộng lãnh thổ phía tây sang Vân nam ( cổ sử gọi là nước ‘Mật Tu’ là biến âm của ‘mặt TÂY’ trong tiếng Việt ) và phía nam đến miền bắc – bắc Trung Việt ngày nay ( Sử Trung hoa chép là nước Sùng ) ; miền đất rộng lớn này chính là lãnh thổ nước Văn Lang : bắc giáp Động đình hồ ,nam giáp nước Hồ tôn , tây đến Ba thục và đông giáp Nam hải trong truyền thuyết lịch sử Việt , vùng này sau trở thành đất Trung hoa ( nghĩa là trung tâm văn minh) của thiên hạ khi Chu Vũ vương lên ngôi Thiên tử kiến lập triều đại Chu ngàn năm , có thể nói không ngoa …. văn hoá văn minh Trung hoa rạng ngời như ngày nay chính là công của nhà Chu ( tứ thư – ngũ kinh linh hồn của văn minh Trung hoa ra đời ở thời này ).

Thông tin trong bài này là sự kiện chứng cho những điều đã viết trong Sử thuyết ho Hùng :

– Kiến lập triều Chu là Thục Phán sử Tàu gọi là Cơ Phát .

– vua Tổ của nhà Chu là ông Cơ Xương tức Văn vương tiếng Việt là Văn lang( Lang ═ vương ═ thủ lãnh-vua) nên nước của Văn vương còn được gọi là nước VĂN LANG kinh đô ở Phong châu hay đất Phong , đất Phong thời nhà Thương Ân thuộc nước SÙNG ( sùng ═ cao) do các Sùng hầu cai quản trước sau có 5 đời chúa truyền thuyết dân gian Việt gọi là Ngũ vị tôn ông : Sùng Nghiêm – Sùng Tôn – Sùng Hoà –Sùng Quyền –Sùng Cầm hay Lãm , vị Sùng hầu sau cùng theo sử Việt là Sùng Lãm nhưng theo sử Trung hoa là Sùng hầu Hổ .

– Trống đồng là Vật thể văn hóa tiêu biểu cho văn minh nhà Chu , nơi phát hiện trống xưa nhất và nhiều nhất cùng với những thông tin về Dịch lý chứa trong hoa văn trên mặt Trống đồng đã chỉ ra điều ấy ( Văn vương là 1 trong tứ thánh đã làm nên Dịch học )

– Nam giao là 1 trong những từ ‘thâm niên’ nhất của lịch sử Việt tộc …kinh Thư chép : đế Nghiêu …mệnh Hy Thúc trạch NAM GIAO…; hướng Bắc – nam lộn ngược đã giúp xác định : Nam giao là từ Việt có nghĩa là vùng đất phía nam Giao chỉ không thể nào là : đất Giao chỉ phía nam ….nước Tàu như lối hiểu của người Hán được ..

 Khi nói nhà CHU rạng rỡ cũng chính là nói : VĂN LANG huy hoàng ; vầng hào quang ấy dù có lúc tạm khuất nhưng chắc chắn không bao giờ tắt .

Tóm lại : chung quanh ‘Giao chỉ’ tức chỗ giữa – chốn giữa Thiên hạ  có :

Những tộc người sống ở Bắc Trung quốc ngày nay xưa gọi là Nam Man

Người sống ở Hướng Xích đạo gọi là Bắc Địch

Người phía Đông thiên hạ gọi là Đông Nhung

Sống ở phía Tây thiên hạ là Tây Di .

Nam man Bắc địch Đông di Tây nhung của người Tàu là cái nhìn ...đầu cắm xuống đất chổng mông lên trời ...

    Hôm nay: 11/12/2017, 12:28 pm