Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh Hùng Việt

Trang chủ


Gallery


July 2018

MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     

Calendar Calendar

Khách thăm







tản mạn Cổ loa

Share
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 824
Join date : 31/01/2008

tản mạn Cổ loa

Bài gửi by Admin on 6/10/2010, 4:04 pm

Tản mạn Cổ Loa

Bách Việt trùng cửu


Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa

Hai câu đối về Chiêu lăng nằm ở mặt trong của nghi môn đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa


Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ


Thục quốc sơn hà thượng cố cung

Vì sao đền An Dương Vương lại gọi là Chiêu lăng? Đền thờ này còn gọi là đền Vua Chủ. Thành Cổ Loa gọi là thành Chủ. Chiêu, Chủ có phải là Chu không?

Một chuyện lạ là An Dương Vương được biết là người "nước ngoài" đến thay thế triều Hùng. Nhưng trong văn hóa khảo cổ không hề có dấu tích nào về sự thay đổi này. Những hiện vật khảo cổ đào được quanh Cổ Loa, được gán vào thời đại An Dương Vương. Nhưng những trống đồng, tên đồng, cày đồng này rõ ràng là của văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương. Không có gì phân biệt. Ngoài Cổ Loa ra thì chẳng còn chỗ nào có hiện vật khảo cổ thời An Dương Vương cả.
An Dương Vương là một giai đoạn "lập quốc" quan trọng, một thời đại đánh thắng hàng vạn quân Tần ở thời thịnh nhất của nhà Tần, một huyền sử dài nhất trong các huyền sử đời Hùng. Thế mà lại chẳng để lại dấu tích gì rõ ràng. Chỉ có thể nói "chồi Âu Lạc mọc lên từ gốc Văn Lang". Nói vậy thì đã cho An Dương Vương cũng chính là một vị Hùng Vương. Và như vậy thì An Dương Vương không chỉ tồn tại trong khoảng vài chục năm mà ít nhất phải ứng với một nền văn hóa khảo cổ lớn trên đồng bằng sông Hồng. Nền văn hóa đó không gì khác là văn hóa Đông Sơn với những đồ đồng như đã đào được ở Cổ Loa.

Ở am thờ Mỵ Châu có một bài thơ rất hay đề trên bảng gỗ:
Hoàng thành đoạn kính thảo ly ly
Vãng sự thương tâm bất khả ty
Tần Việt nhân duyên thành oán ngẫu
Sơn hà kiếp vận đáo nga my
Quyên đế cố quốc sương thiên mộ
Châu dựng hàn lưu bích hải chi
Thần nỗ điếu minh hà xứ khứ
Ngộ nhân đáo để thị kim qui.

Dịch (Đỗ Văn Hỷ):
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài
Quyên kêu nước cũ trời sương muộn
Trai nở dòng băng biển biếc hay
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lẫm lỡ tới ai đây.

Chỗ đáng chú ý ở đây là cụm từ Tần Việt. Nếu là dùng như thành ngữ thì hơi khó hiểu vì ít thấy ai dùng thành ngữ "Tần Việt" để chỉ duyên trai gái và thành ngữ này từ đâu ra (điển tích gì)? Người ta dùng "duyên Tấn Tần" vì Tấn và Tần nằm cạnh nhau. Tần và Việt thời Chiến Quốc thì quá xa, làm sao thành "nhân duyên" được?

Còn nếu Tần Việt là nghĩa đen thì rõ ràng chỉ Mỵ Châu là Việt, và Trọng Thủy là... Tần. Tần chứ không phải Triệu.

Tứ trụ triều đình của An Dương Vương thờ ở Cổ Loa:
1. Phương chính hầu Trần Tự Minh - Thái sư
2. Cao cảnh hầu Cao Lỗ - thái sư phụ quốc
3. Hữu thừa tướng Lý Ông Trọng
4. Trung tín hầu Vũ Bảo Trung

Nếu Cao Lỗ là Chu Công thì Trần Tự Minh có thể là ... Quân Trần, vị toàn quyền kế nghiệp Chu Công cai quản Lạc Dương. Tục thờ Trần tử như đã thấy còn có ở chùa Hương Sơn và am Trang Vương ở Hà Tĩnh .
*****
Văn Nhân góp ý :
Hướng suy nghĩ của Bách Việt trùng cửu được củng cố chắc chắn thêm bởi lẽ :
2 câu :
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lẫm lỡ tới ai đây.
Rõ ràng Chỉ việc thần Kim quy giúp An dương vương xây thành Cổ loa và tặng nhà vua cái vuốt để chế nỏ thần ...và rồi chính nỏ thần trở thành cốt lõi của vụ án Trọng thủy –Mỵ châu đưa đến kết thúc thảm thương là nước Thục rơi vào tay họ Triệu ...xin lưu ý họ Triệu là họ của các vua nhà Tần cũng là nước Tần , đế quốc Tần , Tần thủy hoàng tên là Triệu Chính vì vậy mới có câu :
Tần Việt nhân duyên thành cập oán....
Sự lầm lẫn họ Triệu của vua Tần với Triệu Đà đã làm sai lạc hẳn lịch sử dòng giống HÙNG .
[center]

*****

Bách Việt Trùng cửu viết thêm :

Bài thơ Khối tình con của Tản Đà:

Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nợ tình kia dở dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Nghìn thu khói nhang.

Tôi nghĩ là thành ngữ "Kẻ Việt người Tần" chính là từ chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy

    Hôm nay: 16/7/2018, 2:19 am